Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Video_07__tai_nan_giao_thong.flv Video_13cailuongEnglish.flv Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf Chuc_xuan.swf 535587_346776165442251_1103757000_n5.jpg

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    6 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Tuyệt đỉnh Bolero 2017

    Gốc > Kinh nghiêm DẠY - HỌC >

    Đề mở trong dạy học làm văn - Trần Đình Sử

    Gần đây qua các kì thi chuyển cấp, thi đại học hay thi tốt nghiệp, người ta huy nói đến đ m. Nhưng dề mở là gì, nhiều người vẫn chưa rõ. Vì vậy xin nêu mấy suy nghĩ về đề mở để bạn đọc tham khảo.

    Làm văn trong nhà trường là hình thức để học sinh luyện tập viết các văn bản theo một chương trình định sẵn. Để học sinh luyện tập làm văn thầy cô giáo phải ra các đề văn. Đ văncó tác dụng dịnh hướng tư tưởng, tư duy, quy định phạm vi vấn đề, tri thức, giới hạn tư liệu, thao tác lập luận và cũng có tác dụng gây hứng thú viết văn đối với học sinh nữa. Đề văn hay gây hứng thú cho học sinh, đề văn khô khan, cứng nhắc có thể gây ức chế hứng thú của người làm văn. Đ m là loại đề có khả năng tạo không gian thoáng cho học sinh suy nghĩ.

         Trước đây trong dạy học làm văn giáo viên thường ra đ văn hn đnh, trong đó bao giờ cũng có một phạm vi vấn đề, tri thức và một yêu cầu dưới hình thức mệnh lệnh. Ví dụ các đề văn sau :

         1. Nhà văn Nga M. Gorki có nói : “Văn hc là nhân hc”. Anh (ch) hãy làm sáng t nhn đnh y.

         2. Phân tích v đp ca hình tượng ông Hun Cao trong truyn ngn Ch người t tù.

         3. Bình ging kh thơ cui trong bài thơ Tng bit hành ca Thâm Tâm.

    Mỗi đề dều có một đối tượng xác định và một mệnh lệnh yêu cầu học sinh thực hiện trong bài làm văn. Đề 1 yêu cầu giải thích, chững minh câu nói của Gorki; đề 2 yêu cầu phân tích vẻ đẹp của hình tượng ông Huấn Cao; đề 3 tuy không hạn định nội dung, nhưng thực tế là yêu cầu bình giảng như đã học. Đặc điểm của đề văn đó là hướng dẫn học sinh suy nghĩ và viết về một vấn đề cụ thể, vận dụng một số thao tác, huy động một phạm vi kiến thức nhất định. Đặc điểm thứ hai là giáo viên có thể quy định một đáp án để dùng cho tất cả học sinh cùng làm một đề. Nhược điểm của nó là tính chất bắt buộc, gò bó, khả năng lựa chọn dành cho học sinh ít, chưa tạo cơ hội cho học sinh chủ động lựa chọn phương án và hào hứng làm văn.

       Ngày nay trong dạy học làm văn có khuynh hướng ra đề mở. Đề văn nào cũng có tính hạn định, nhưng đề mở độ hạn định giảm thiểu để tạo khả năng cho học sinh lựa chọn, khiến họ được tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề của mình. Các dạng đề mở thường gặp gồm có :

    1. 1.     Loi đ cho đ tài. Đề ra như một đề tài chung để viết, học sinh có thể cụ thể hoá thành đê mục hay nhan đề của bài viết, có thể chọn kiểu bài nghị luận hay tự sự, biểu cảm, nhưng không được làm thơ.

    Ví dụ, đề cho học sinh lớp 9.

     1)Viết v tình bn. Hc sinh t đt nhan đ, không hn chế kiu bài, tr thơ, viết bài văn không dưới 600 ch..

        2) Cây xanh và con người. Hc sinh t đt nhan đ, không hn chế kiu bài, tr thơ, viết bài văn khong 800 chũ.   

      Trong hai đề dạng này, ngoài hạn chế số chữ và không được làm thơ, học sinh không chỉ có thể tự do chọn kiểu bài như đã nói, mà còn tự do đặt nhan đề. Chẳng hạn đối với đề 1), học sinh có thể viết về người bạn mới quen, hay người bạn cũ, họăc nghị luận về tình bạn, bày tỏ cảm xúc đối với người bạn gặp khó khăn, nhớ người bạn đang ở xa, hoặc kể về những mối tình bạn cao thượng và cảm động mà em biết. Loại đề này chỉ có thể ra khi học sinh đã học hết các kiểu bài và thích hợp ra trong kì thi cuối năm hay thi chuyển cấp. Khi đang học một kiểu bài nào đó thì phải tập trung vào kiểu bài đang học. Lúc đó có thể sử dụng kiểu đề mở khác.

    2.Loi đ cho tài liu. Đây là dạng đề cung cấp một bức tranh hoặc ảnhhoặc cho một truyện ngụ ngôn, truyện cười, một nhân vật lịch sử, hoặc một đoạn trích tác phẩm, một mẩu tin trên báo, học sinh tự chọn lấy vấn đề, chủ đề để viết bài phân tích, bình luận, biểu cảm. Ví dụ đề văn cho lớp 12.

    Đ 1. Chọn một trong ba tài liệu dưới đây làm bài theo yêu cầu ở dưới

    a) Báo Dương Thành Bui Ti (Qung Châu) tường thuật khoảng 17g30 ngày 13-10-2011, tại một con đường nhỏ ở Quảng Phật Ngũ Kim Thành thuộc quận Nam Hải ở Phật Sơn, bé gái Duyệt Duyệt 2 tuổi đang lững thững đi ra đường đã bị một xe hơi loại bảy chỗ tông phải và cán lên phần gần đầu của bé. Lúc này bé Duyệt Duyệt còn cử động, tài xế cho xe dừng lại vài giây rồi thản nhiên cho xe chạy tiếp và bánh xe sau lại nghiến nát một phần thân thể bé gái. Chỉ vài phút sau, một chiếc xe tải nhỏ tiếp tục cán nát đôi chân của bé gái này.

    b) Cậu bé 14 tuổi xả thân cứu người. Trưa 8/9 em Nguyên học sinh trường THCS xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi đã ra đi vĩnh viễn. Một nhóm học sinh sau khi tập múa lân đã rủ nhau xuống tắm. Em Thơ không biết bơi, lội xa bờ, trượt chân đuối nước. Nguyên lao ra cứu Thơ, hai người vật lộn dưới nước, khi đưa được Thơ vào bờ, thì Nguyên đã kiệt sức sức, bị nước cuốn. Khi Nguyên được cứu thì em đã lịm dần, hôn mê sâu và ra đi mãi mãi. Đồng bào cả xã và học sinh toàn  trường vô cùng thương tiếc em.

    c) ‘Hiệp sĩ đường phố’ lập công 3 ngày liên tiếp. Đây là vụ thứ 3 liên tiếp trong 3 ngày “hiệp sĩ đường phố” lập công. Hai ngày trước, anh Tiến cũng đã bắt hai tên cướp giật dây chuyền trên đường Tô Hiến Thành. Sau đó, đôi trộm giàn giáo công trình ở quận 11 cũng bị anh bắt quả tang.Ngưỡng mộ trước thành tích hàng trăm lần bắt cướp của anh Tiến, nhiều người đã xin được làm “đệ tử” của anh, cùng anh rong ruỗi trên khắp các tuyến đường Sài Gòn để bắt tội phạm. Hiện nhóm các “hiệp sĩ đường phố” có khoảng chục người.      Đọc kĩ tài liệu đã chọn, tự xác định đề mục, viết bài làm văn nghị luận, biểu cảm không quá 800 chữ.

       Đối với đề này học sinh có thể nhận ra tinh vô cảm là một nguy cơ của con người hiện đại. Ai cũng chỉ biết bản thân mình, cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, thấy người chết mà không cứu. Quan tâm đồng loại là một phẩm chất của con người. Phẩm chất quên mình cứu bạn là một hành động tự nhiên thuộc bản tính người, không cần suy nghĩ, nếu ai tính toán chắc là người ta sẽ không dám làm. Hiệp sĩ đường phố cũng là một hình ảnh đẹp, không nề hiểm nguy, dũng cảm bắt cướp. Các hiện tượng ấy đem lại cho ta niềm tin vào phẩm chất của người Việt Nam. Ai kia tham nhũng, đem tiền tỉ mà đi đánh bạc, chứ người dân bình thường vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp. Đất nước ta sẽ bền vững nhờ những con người ấy.

         Học sinh có thể chọn chủ đề thói vô cảm, tinh thần quả cảm, ngày nay vẫn còn kẻ biết quên mình vì đồng loại, cuộc sống rất cần tinh thần cao cả, từ vô cảm đối với mạng sống của một em bé đến vô cảm trước vận mệnh của đất nước,  vô cảm và quả cảm, nguy cơ của thói vô cảm…Tùy theo chủ đề được chọn mà viết bài.

         Đề 2. Đọc ba đoạn văn dưới đây, làm bài văn theo yêu cầu nêu ở dưới:

    a) Nhà triết học Hy Lạp Platinus nói: Chúng ta do đòi hỏi mà khẳng định con người là thành viên sáng giá nhất, tồn tại trí tuệ nhất của vũ trụ, nhưng sự thực thì con người đứng giữa thiên thần và ác quỷ, có lúc ngả về phía này, lúc ngả về phía kia, có khi ngả về cả hai phía, phần lớn người giữ mình ở khoảng giữa.

    b) Con người thường chê lợn là ngu, nhưng có con lợn phản bác lại rằng : Xem lại đi, kẻ bị nhốt trong tù là người, kẻ bị hành quyết trên pháp trường là người, kẻ gây chiến tranh để tàn sát đồng loại cũng là người. Những chỗ ấy đâu có thấy bóng dáng của lợn ?

    c) Con hổ hỏi người thợ cày đang điều khiển con trâu cày ruộng: Tại sao con người nhỏ bé mà lại khuất phục được con trâu to thế kia? Người nông dân trả lời: Vì ta có trí khôn. Hổ lại hỏi: Thế trí không của người đâu cho tôi xem? Người nông dân đáp: Trí khôn ta để ở nhà. Nếu muốn xem thì để ta trói hổ vào gốc cây, nếu không thì khi về nhà hổ ăn mất trâu của ta. Hổ bằng lòng để người trói. Trói xong người nông dân lấy roi đánh túi bụi vào con hổ, vừa đánh vừa bảo: Trí không ta đây. Trí không ta đây. Đánh rồi còn đem lửa đốt hổ, hổ nóng quá vùng thoát chạy lên rừng. Từ đó con hổ có những vệt cháy sém loang lổ trên da nó.

     

          Cả ba đoạn đều nói về con người, quan hệ con người với giới tự nhiên. Tìm hiểu ý nghĩa của mỗi đoạn, chú ý cả nghĩa vốn có của đoạn lẫn ý nghĩa mà người đọc có thể suy ra. Chọn chủ đề, đặt nhan đề thích hợp, viết bài làm văn nghị luận không quá 800 chữ.

          Đối với đề văn này học sinh có thể tranh luận với các nhà tư tưởng cổ đại. Con người đúng là đứng giữa thiên thân và ác quỷ. Có kẻ muốn là thiên thần, bóp nghẹt cuộc sống tự nhiên của mình, có kẻ là ác quỷ, buông thả cho các dục vọng thú tính. Nhưng con người không phải thiên thần cũng không phải ác quỷ, nó có phần lí tính và có phần tự nhiên, nó phải sống hài hoà giữa hai mặt đó; con người thường quá tự hào về mình, xem loàì vật đều ngu dốt, mà không mấy khi thấy được nhược điểm của mình, con người dùng trí khôn để đối xử bất công với các loài vật, và ngày nay chính con người đó đang phá hoại môi trường sống tự nhiên, phá rừng. Trí khôn con người có loại khôn ngoan, hiểu biết, có loại chỉ là khôn tham, chỉ biết cái lợi trước mắt, không biết lợi ích lâu dài, toàn cục. Học sinh có thể chọn các chủ đề sau: Con người hãy nhìn lại mình, vượt lên ác quỷ, con người không phải thiên thần, trí khôn con người…

    3. Đ cho hc sinh đin ch trng. Ví dụ:

    a) Em ước mong…..

    b) Em biết ơn…..

    c) Em yêu….

         Đối với các loại đề này học sinh suy nghĩ điền vào chỗ trống một từ hay cụm từ thể hiện niềm mong ước hay gọi tên người hay tổ chức, cơ quan mà em biết ơn. Như thế học sinh có một khoảng rộng để tự chọn. Chẳng hạn em ước mong được làm người có ích, em ước mong được vào đại học, em ước mong đất nước mạnh giàu, em ước mong được khoẻ mạnh (nếu là một học sinh chẳng may bị bệnh hiểm nghèo, bị bênh tim bẩm sinh). Hoặc em biết ơn cha mẹ, em biết ơn nhà trường, em biết ơn bác sĩ…Đối với đề c học sinh có thể viết em yêu quê hương, em yêu cây xanh, em yêu lá cờ Tổ Quốc…Kiểu bài làm văn có thể là tự sự có thể là biểu cảm, có thể là nghị luận, tuỳ theo cách hiểu vấn đề và cách giải quyết vấn đề của học sinh.

    4. Đ m cho HS la chn kết qu đc hiu

       Loại đề này vừa mở, vừa có tính chất trắc nghiệm. Ví dụ, GV cho một đoạn văn, sau đó nêu ra 3 cách hiểu về chủ đề đoạn văn để học sinh chọn lấy cách hiểu mà em cho là phù hợp nhất. Đối với đề này cần lưu ý tính đa nghĩa của văn bản văn học, trong 3 cách nêu chủ đề, cách nêu đúng và sai phải rõ ràng. Có thể có 2 cách hiểu trong đó đều phù hợp, đứng ở 2 góc nhìn khác nhau. Đây là loại đề khó, sẽ bàn thêm vào dịp khác.

        Đề mở có tác dụng cho học sinh được tự mình chủ động lựa chọn, gây hứng thú, phát huy sở trường và cá tính của học sinh, nhưng không có nghĩa là loại đề hạn định không còn ý nghĩa nửa. Trong nhiều trường hợp loại đề đó có tác dụng luyện tập thao tác làm việc cho học sinh trong kiểu bài cụ thể. Đề mở có ý nghĩa và tác dụng trong các kì thi cuối năm, thi chuyển cấp, thi tốt nghiệp, thi đại học. Loại đề này có tác dụng thử tài tư duy sáng tạo, phân hóa khả năng ứng phó linh hoạt của học sinh.

        Để học sinh làm được bài văn theo đề mở người giáo viên phải nghiên cứu, tập ra đề, trao đổi tập thể, thử các khả năng thực hiện đề mở, có biện pháp dạy học sinh làm quen, làm thử thì học sinh mới làm được. Đề mở đòi hỏi học sinh ngay trong khâu tìm hiểu đề đã phải tư duy nhiều, phải đọc hiểu đề, tìm ra các ý nghĩa ẩn chìm trong các đề tài và tài liệu mới có khả năng đề ra chủ đề và đặt nhan đề cho bài làm văn. Đặt nhan đề có nghĩa là xác định chủ đề cho mình và tự viết bài để thể hiện chủ đề ấy. Đề mở không phải là loại đề dễ làm hơn so với đề hạn định, mà phần nào còn khó hơn, vì bản thân sự lựa chọn là khó hơn việc học sinh không cần lựa chọn gì cả, cứ làm theo lệnh, chỉ đâu đánh đó. Đối với các học sinh quen học thụ động thì khi tự mình phải lựa chọn là đã cảm thấy khó. Cho nên đề mở đòi hỏi học sinh vượt qua tính thụ động của mình trong làm văn, và khi đã quen thì học sinh sẽ trở nên một con người khác, luôn luôn chủ động.

        Đề mở là một hướng tiến bộ trong dạy học làm văn, những vẫn đang là một vấn đề mới, chưa được nghiên cứu sâu, còn có những khía cạnh chưa rõ, phải qua thực tiễn thì mới nhìn thấy hết được. Vấn đề này đòi hỏi các giáo viên nghiên cứu, suy nghĩ, nhìn thấy chỗ mạnh, chỗ khó, thậm chí chỗ yếu của nó, nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp thì phương hướng này mới phát huy được tác dụng tích cực của nó.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 21:10 24/07/2014
    Số lượt xem: 1444
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi