Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Video_07__tai_nan_giao_thong.flv Video_13cailuongEnglish.flv Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf Chuc_xuan.swf 535587_346776165442251_1103757000_n5.jpg

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    1 khách và 1 thành viên
  • Nguyễn Thị Thanh Thủy
  • Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Tuyệt đỉnh Bolero 2017

    Gốc > Ngân hàng đề thi HSG Tiểu học > Đề thi HSG Lớp 5 >

    Bài tập toán nâng cao lớp 5 - Phần 4

    Bài 1: Có 7 thùng đựng đầy dầu, 7 thùng chỉ còn nửa thùng dầu và 7 vỏ thùng. Làm sao có thể chia cho 3 người để mọi người đều có lượng dầu như nhau và số thùng như nhau ?

    Bài giải: 
    Gọi thùng đầy dầu là A, thùng có nửa thùng dầu là B, thùng không có dầu là C.
    Cách 1: Không phải đổ dầu từ thùng này sang thùng kia.
    Người thứ nhất nhận: 3A, 1B, 3C.
    Người thứ hai nhận: 2A, 3B, 2C.
    Người thứ ba nhận: 2A, 3B, 2C.
    Cách 2: Không phải đổ dầu từ thùng này sang thùng kia.
    Người thứ nhất nhận: 3A, 1B, 3C.
    Người thứ hai nhận: 3A, 1B, 3C.
    Người thứ ba nhận: 1A, 5B, 1C.
    Cách 3: Đổ dầu từ thùng này sang thùng kia.
    Lấy 4 thùng chứa nửa thùng dầu (4B) đổ đầy sang 2 thùng không (2C) để được 2 thùng đầy dầu (2A). Khi đó có 9A, 3B, 9C và mỗi người sẽ nhận được như nhau là 3A, 1B, 3C. 

    Bài 2: 

    Chiếc bánh trung thu
    Nhân tròn ở giữa
    Hãy cắt 4 lần
    Thành 12 miếng
    Nhưng nhớ điều kiện
    Các miếng bằng nhau
    Và lần cắt nào
    Cũng qua giữa bánh

    Bài giải: 
    Có nhiều cách cắt được các bạn đề xuất. Xin giới thiệu 3 cách.
    Cách 1: Nhát thứ nhất chia đôi theo bề dầy của chiếc bánh và để nguyên vị trí này cắt thêm 3 nhát (như hình vẽ).

    Lưu ý là AM = BN = DQ = CP = 1/6 AB và IA = ID = KB = KC = 1/2 AB.
    Các bạn có thể dễ dàng chứng minh được 12 miếng bánh là bằng nhau và cả 3 nhát cắt đều đi qua đúng ... tâm bánh.
    Cách 2: Cắt 2 nhát theo 2 đường chéo để được 4 miếng rồi chồng 4 miếng này lên nhau cắt 2 nhát để chia mỗi miếng thành 3 phần bằng nhau (lưu ý: BM = MN = NC).

    Cách 3: Nhát thứ nhất cắt như cách 1 và để nguyên vị trí này để cắt thêm 3 nhát như hình vẽ.
    Lưu ý: AN = AM = CQ = CP = 1/2 AB.

    Bài 3: Mỗi đỉnh của một tấm bìa hình tam giác được đánh số lần lượt là 1; 2; 3. Người ta chồng các tam giác này lên nhau sao cho không có chữ số nào bị che lấp. Một bạn cộng tất cả các chữ số nhìn thấy thì được kết quả là 2002. Liệu bạn đó có tính nhầm không?

    Bài giải: 
    Tổng các số trên ba đỉnh của mỗi hình tam giác là 1 + 2 + 3 = 6. Tổng này là một số chia hết cho 6. Khi chồng các hình tam giác này lên nhau sao cho không có chữ số nào bị che lấp, rồi tính tổng tất cả các chữ số nhìn thấy được phải có kết quả là số chia hết cho 6. Vì số 2002 không chia hết cho 6 nên bạn đó đã tính sai.

    Bài 4: Một đội tuyển tham dự kỳ thi học sinh giỏi 3 môn Văn, Toán, Ngoại ngữ do thành phố tổ chức đạt được 15 giải. Hỏi đội tuyển học sinh giỏi đó có bao nhiêu học sinh? Biết rằng:
    Học sinh nào cũng có giải. 
    Bất kỳ môn nào cũng có ít nhất 1 học sinh chỉ đạt 1 giải. 
    Bất kỳ hai môn nào cũng có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả hai môn.
    Có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả 3 môn.
    Tổng số học sinh đạt 3 giải, 2 giải, 1 giải tăng dần.

    Bài giải: 
    Gọi số học sinh đạt giải cả 3 môn là a (học sinh)
    Gọi số học sinh đạt giải cả 2 môn là b (học sinh)
    Gọi số học sinh chỉ đạt giải 1 môn là c (học sinh)
    Tổng số giải đạt được là: 
    3 x a + 2 x b + c = 15 (giải).
    Vì tổng số học sinh đạt 3 giải, 2 giải, 1 giải tăng dần nên a < b < c.
    Vì bất kỳ 2 môn nào cũng có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả 2 môn nên:
    - Có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả 2 môn Văn và Toán.
    - Có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả 2 môn Toán và Ngoại Ngữ.
    - Có ít nhất 1 học sinh đạt giải cả 2 môn Văn và Ngoại Ngữ.
    Do vậy b= 3.
    Giả sử a = 2 thì b bé nhất là 3, c bé nhất là 4; do đó tổng số giải bé nhất là:
    3 x 2 + 2 x 3 + 4 = 16 > 15 (loại). Do đó a < 2, nên a = 1.
    Ta có: 3 x 1 + 2 x b + c = 15 suy ra: 2 x b + c = 12.
    Nếu b = 3 thì c = 12 - 2 x 3 = 6 (đúng). 
    Nếu b = 4 thì c = 12 - 2 x 4 = 4 (loại vì trái với điều kiện b < c)
    Vậy có 1 bạn đạt 3 giải, 3 bạn đạt 2 giải, 6 bạn đạt 1 giải.
    Đội tuyển đó có số học sinh là: 
    1 + 3 + 6 = 10 (bạn). 

    Bài 5: 20 Giỏ dưa hấu
    Trí và Dũng giúp bố mẹ xếp 65 quả dưa hấu mỗi quả nặng 1kg, 35 quả dưa hấu mỗi quả nặng 2kg và 15 quả dưa hấu mỗi quả nặng 3kg vào trong 20 giỏ.
    Mọi người cùng đang làm việc, Trí chạy đến bàn học lấy giấy bút ra ghi... ghi và Trí la lên: “Có xếp thế nào đi chăng nữa, chúng ta luôn tìm được 2 giỏ trong 20 giỏ này có khối lượng bằng nhau”.
    Các bạn hãy chứng tỏ là Trí đã nói đúng.

    Bài giải: 
    Tổng khối lượng dưa là: 
    1 x 65 + 2 x 35 + 3 x 15 = 180 (kg).
    Giả sử khối lượng dưa ở mỗi giỏ khác nhau thì tổng khối lượng dưa ở 20 giỏ bé nhất là:
    1 + 2 + 3 + ... + 19 + 20 = 210 (kg). 
    Vì 210 kg > 180 kg nên chắc chắn phải có ít nhất 2 giỏ trong 20 giỏ có khối lượng bằng nhau. Vậy Trí đã nói đúng. 

    Bài 6: Hoàng mua 6 quyển vở, Hùng mua 3 quyển vở. Hai bạn góp số vở của mình với số vở của bạn Sơn, rồi chia đều cho nhau. Sơn tính rằng mình phải trả các bạn đúng 800 đồng.
    Tính giá tiền 1 quyển vở, biết rằng cả ba bạn đều mua cùng một loại vở.

    Bài giải: 
    Vì Hoàng và Hùng góp số vở của mình với số vở của Sơn, rồi chia đều cho nhau, nên tổng số vở của ba bạn là một số chia hết cho 3. Số vở của Hoàng và Hùng đều chia hết cho 3 nên số vở của Sơn cũng là số chia hết cho 3.
    Số vở của Sơn phải ít hơn 6 vì nếu số vở của Sơn bằng hoặc nhiều hơn số vở của Hoàng (6 quyển) thì sau khi góp vở lại chia đều Sơn sẽ không phải trả thêm 800 đồng. Số vở của Sơn khác 0 (Sơn phải có vở của mình thì mới góp chung với các bạn được chứ!), nhỏ hơn 6 và chia hết cho 3 nên Sơn có 3 quyển vở.
    Số vở của mỗi bạn sau khi chia đều là: (6 + 3 + 3) : 3 = 4 (quyển)
    Như vậy Sơn được các bạn đưa thêm: 4 - 3 = 1 (quyển)
    Giá tiền một quyển vở là 800 đồng.

    Bài 7: Hai bạn Huy và Nam đi mua 18 gói bánh và 12 gói kẹo để đến lớp liên hoan. Huy đưa cho cô bán hàng 2 tờ 100000 đồng và được trả lại 72000 đồng. Nam nói: “Cô tính sai rồi”. Bạn hãy cho biết Nam nói đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    Bài giải: 
    Vì số 18 và số 12 đều chia hết cho 3, nên tổng số tiền mua 18 gói bánh và 12 gói kẹo phải là số chia hết cho 3. 
    Vì Huy đưa cho cô bán hàng 2 tờ 100000 đồng và được trả lại 72000 đồng, nên số tiền mua 18 gói bánh và 12 gói kẹo là:
    100000 x 2 - 72000 = 128000 (đồng).
    Vì số 128000 không chia hết cho 3, nên bạn Nam nói “Cô tính sai rồi” là đúng.

    Bài 8: Có hai cái đồng hồ cát 4 phút và 7 phút. Có thể dùng hai cái đồng hồ này để đo thời gian 9 phút được không?

    Bài giải: 
    Có nhiều cách để đo được 9 phút: Bạn có thể cho cả 2 cái đồng hồ cát cùng chảy một lúc và chảy hết cát 3 lần. Khi đồng hồ 4 phút chảy hết cát 3 lần (4 x 3 = 12(phút)) thì bạn bắt đầu tính thời gian, từ lúc đó đến khi đồng hồ 7 phút chảy hết cát 3 lần thì vừa đúng được 9 phút (7 x 3 - 12 = 9(phút)); hoặc cho cả hai đồng hồ cùng chảy một lúc, đồng hồ 7 phút chảy hết cát một lần (7 phút), đồng hồ 4 phút chảy hết cát 4 lần (16 phút). Khi đồng hồ 7 phút chảy hết cát ta bắt đầu tính thời gian, từ lúc đó đến lúc đồng hồ 4 phút chảy hết cát 4 lần là vừa đúng 9 phút (16 - 7 = 9 (phút)); ...

    Bài 9: Một chiếc đồng hồ đang hoạt động bình thường, hiện tại kim giờ và kim phút đang không trùng nhau. Hỏi sau đúng 24 giờ (tức 1 ngày đêm), hai kim đó trùng nhau bao nhiêu lần? Hãy lập luận để làm đúng sáng tỏ kết qu đó.

    Bài giải: 
    Với một chiếc đồng hồ đang hoạt động bình thường, cứ mỗi giờ trôi qua thì kim phút quay được một vòng, còn kim giờ quay được 1/12 vòng.
    Hiệu vận tốc của kim phút và kim giờ là:
    1 - 1/12 = 11/12 (vòng/giờ)
    Thời gian để hai kim trùng nhau một lần là:
    1 : 11/12 = 12/11 (giờ)
    Vậy sau 24 giờ hai kim sẽ trùng nhau số lần là :
    24 : 12/11 = 22 (lần).

    Bài 10: Có ba người dùng chung một két tiền. Hỏi phải làm cho cái két ít nhất bao nhiêu ổ khoá và bao nhiêu chìa để két chỉ mở được nếu có mặt ít nhất hai người?

    Bài giải: 
    Vì két chỉ mở được nếu có mặt ít nhất hai người, nên số ổ khoá phải lớn hơn hoặc bằng 2.
    a) Làm 2 ổ khoá.
    + Nếu làm 3 chìa thì sẽ có hai người có cùng một loại chìa; hai người này không mở được két.
    + Nếu làm nhiều hơn 3 chìa thì ít nhất có một người cầm 2 chìa khác loại; chỉ cần một người này đã mở được két.
    Vậy không thể làm 2 ổ khoá.
    b) Làm 3 ổ khoá
    + Nếu làm 3 chìa thì cần phải có đủ ba người mới mở được két.
    + Nếu làm 4 chìa hoặc 5 chìa thì ít nhất có hai người không mở được két. 
    + Nếu làm 6 chìa (mỗi khoá 2 chìa) thì mỗi người cầm hai chìa khác nhau thì chỉ cần hai người bất kỳ là mở được két. 
    Vậy ít nhất phải làm 3 ổ khoá và mỗi ổ khoá làm 2 chìa.

    Bài 11: Một phân xưởng có 25 người. Hỏi rằng trong phân xưởng đó có thể có 20 người ít hơn 30 tuổi và 15 người nhiều hơn 20 tuổi được không?

    Bài giải: 
    Vì chỉ có 25 người, mà trong đó có 20 ít hơn 30 tuổi và 15 người nhiều hơn 25 tuổi, nên số người được điểm 2 lần là:
    (20 + 15) - 25 = 10 (người)
    Đây chính là số người có độ tuổi ít hơn 30 tuổi và nhiều hơn 20 tuổi (từ 21 tuổi đến 29 tuổi)

    Số người từ 30 tuổi trở lên là:
    25 - 20 = 5 (người)
    Số người từ 20 tuổi trở xuống là:
    25 - 15 = 10 (người)
    Số người ít hơn 30 tuổi là:
    10 + 10 = 20 (người)
    Số người nhiều hơn 20 tuổi là:
    10 + 5 = 15 (người)

    Vậy có thể có 20 người dưới 30 tuổi và 15 người trên 20 tuổi; trong đó từ 21 đến 29 tuổi ít nhất có hai người cùng độ tuổi.

    Bài 12: Tìm 4 số tự nhiên liên tiếp có tích là 3024

    Bài giải: 
    Giả sử cả 4 số đều là 10 thì tích là 10 x 10 x 10 x 10 = 10000 mà 10000 > 3024 nên cả 4 số tự nhiên liên tiếp đó phải bé hơn 10.
    Vì 3024 có tận cùng là 4 nên cả 4 số phải tìm không thể có tận cùng là 5. Do đó cả 4 số phải hoặc cùng bé hơn 5, hoặc cùng lớn hơn 5.
    Nếu 4 số phải tìm là 1; 2; 3; 4 thì:
    1 x 2 x 3 x 4 = 24 < 3024 (loại)
    Nếu 4 số phải tìm là 6; 7; 8; 9 thì:
    6 x 7 x 8 x 9 = 3024 (đúng)
    Vậy 4 số phải tìm là 6; 7; 8; 9.

    Bài 13: Có 3 loại que với số lượng và các độ dài như sau:
    - 16 que có độ dài 1 cm 
    - 20 que có độ dài 2 cm 
    - 25 que có độ dài 3 cm 
    Hỏi có thể xếp tất cả các que đó thành một hình chữ nhật được không?

    Bài giải: 
    Một hình chữ nhật có chiều dài (a) và chiều rộng (b) đều là số tự nhiên (cùng một đơn vị đo) thì chu vi (P) của hình đó phải là số chẵn:
    P = (a + b) x 2
    Tổng độ dài của tất cả các que là:
    1 x 16 + 2 x 20 + 3 x 25 = 131 (cm)
    Vì 131 là số lẻ nên không thể xếp tất cả các que đó thành một hình chữ nhật được.

    Bài 14: Thi bắn súng 
    Hôm nay Dũng đi thi bắn súng. Dũng bắn giỏi lắm, Dũng đã bắn hơn 11 viên, viên nào cũng trúng bia và đều trúng các vòng 8;9;10 điểm. Kết thúc cuộc thi, Dũng được 100 điểm. Dũng vui lắm. Còn các bạn có biết Dũng đã bắn bao nhiêu viên và kết quả bắn vào các vòng ra sao không?

    Bài giải: 
    Số viên đạn Dũng đã bắn phải ít hơn 13 viên (vì nếu Dũng bắn 13 viên thì Dũng được số điểm ít nhất là: 8 x 11 + 9 x 1 + 10 x 1 = 107 (điểm) > 100 điểm, điều này vô lý). 
    Theo đề bài Dũng đã bắn hơn 11 viên nên số viên đạn Dũng đã bắn là 12 viên.
    Mặt khác 12 viên đều trúng vào các vòng 8, 9, 10 điểm nên ít nhất có 10 viên vào vòng 8 điểm, 1 viên vào vòng 9 điểm, 1 viên vào vòng 10 điểm.
    Do đó số điểm Dũng bắn được ít nhất là:
    8 x 10 + 9 x 1 + 10 x 1 = 99 (điểm)
    Số điểm hụt đi so với thực tế là:
    100 - 99 = 1 (điểm) 
    Như vậy sẽ có 1 viên không bắn vào vòng 8 điểm mà bắn vào vòng 9 điểm; hoặc có 1 viên không bắn vào vòng 9 điểm mà bắn vào vòng 10 điểm.
    Nếu có 1 viên Dũng không bắn vào vòng 9 điểm mà bắn vào vòng 10 điểm thì tổng cộng sẽ có 10 viên vào vòng 8 điểm và 2 viên vào vòng 10 điểm (loại vì không có viên nào bắn vào vòng 9 điểm).
    Vậy sẽ có 1 viên không bắn vào vòng 8 điểm mà bắn vào vòng 9 điểm, tức là có 9 viên vào vòng 8 điểm, 2 viên vào vòng 9 điểm và 1 viên vào vòng 10 điểm. 

    Bài 15: Tìm hai số biết rằng tổng của chúng gấp 5 lần hiệu của chúng và tích của chúng gấp 4008 lần hiệu của chúng.

    Bài giải: 
    Coi hiệu của hai số là 1 phần thì tổng của chúng là 5 phần. Do đó số lớn là (5 + 1) : 2 = 3 (phần). Số bé là : 3 - 1 = 2 (phần). Tích của hai số là : 2 x 3 = 6 (phần), mà tích hai số là 4008 nên giá trị một phần là : 4008 : 6 = 668. Số bé là : 668 x 2 = 1336 ; số lớn là : 668 x 3 = 2004.

    Bài 16: Trong kho của một đơn vị dân công còn lại đúng một bao gạo chứa 39 kg gạo. Bác cấp dưỡng cần lấy ra 11/13 số gạo đó. Hỏi chỉ với một chiếc cân loại cân đĩa và một quả cân 1 kg, bác cấp dưỡng phải làm thế nào để chỉ sau 3 lần cân lấy ra đủ số gạo cần dùng.

    Bài giải: 
    Số gạo bác cấp dưỡng cần lấy ra là : 39 x 11/13 = 33 (kg) Số gạo còn lại sau khi bác cấp dưỡng lấy là : 39 - 33 = 6 (kg)
    Cách thực hiện cân như sau :
    Lần 1: Đặt quả cân lên một đĩa cân, đổ gạo vào đĩa cân bên kia đến khi cân thăng bằng, được 1 kg gạo.
    Lần 2: Đặt quả cân sang đĩa có 1 kg gạo vừa cân được rồi đổ gạo vào đĩa cân trống đến khi cân thăng bằng, được 2 kg gạo.
    Lần 3: Đặt cả 3 kg gạo cân được ở hai lần trên vào một đĩa cân, đĩa cân kia đổ gạo vào cho đến khi cân thăng bằng, được mỗi bên 3 kg gạo.
    Như vậy số gạo có được sau ba lần cân là 6 kg. Số gạo còn lại trong bao chính là số gạo mà bác cấp dưỡng cần dùng.

    Bài 17: Cho một phép chia hai số tự nhiên có dư. Tổng các số : số bị chia, số chia, số thương và số dư là 769. Số thương là 15 và số dư là số dư lớn nhất có thể có trong phép chia đó. Hãy tìm số bị chia và số chia trong phép chia.

    Bài giải: 
    Số dư trong phép chia là số dư lớn nhất nên kém số chia 1 đơn vị. Ta có sơ đồ sau:

    Theo sơ đồ, nếu gọi số chia là 1 phần, thêm 1 đơn vị vào số dư và số bị chia thì tổng số phần của số chia, số bị chia và số dư (mới) gồm : 15 + 1 + 1 + 1 = 18 (phần) như vậy. Khi đó tổng của số chia, số bị chia và số dư (mới) là : 769 - 15 + 1 + 1 = 756.
    Số chia là : 756 : 18 = 42
    Số dư là : 42 - 1 = 41
    Số bị chia là : 42 x 15 + 41 = 671

    Bài 18: Số táo của An, Bình và Chi là như nhau. An cho đi 17 quả, Bình cho đi 19 quả thì lúc này số táo của Chi gấp 5 lần tổng số táo còn lại của An và Bình. Hỏi lúc đầu mỗi bạn có bao nhiêu quả táo ?

    Bài giải: 
    Nếu coi số táo của Chi gồm 5 phần thì tổng số táo của An và Bình là 10 phần. Số táo mà An và Bình đã cho đi là : 17 + 19 = 36 (quả)
    Vì số táo của Chi gấp 5 lần tổng số táo còn lại của An và Bình nên số táo còn lại của hai bạn gồm 1 phần. Như vậy An và Bình đã cho đi số phần là : 10 - 1 = 9 (phần) Vậy số táo của Chi là : (36 : 9) x 5 = 20 (quả)
    Vì ba bạn có số táo bằng nhau nên mỗi bạn lúc đầu có 20 quả.

    Bài 19: Nếu đếm các chữ số ghi tất cả các ngày trong năm 2004 trên tờ lịch treo tường thì sẽ được kết quả là bao nhiêu ?

    Bài giải: 
    Năm 2004 là năm nhuận có 366 ngày.
    Một năm có 12 tháng, mỗi tháng có 9 ngày từ mùng 1 đến mùng 9 là những ngày được viết bằng các số có 1 chữ số. Như vậy số ngày được viết bằng số có 1 chữ số là : 9 x 12 = 108 (ngày).
    Số ngày còn lại trong năm được viết bằng số có 2 chữ số là : 366 - 108 = 258 (ngày).
    Vậy đếm các chữ số ghi tất cả các ngày của năm 2004 trên tờ lịch thì ta được : 1 x 108 + 2 x 258 = 624 (chữ số).

    Bài 20: Cho:
    Hãy so sánh S và 1/2.

    Bài giải: 


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 10:00 22/09/2014
    Số lượt xem: 530
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi