Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn Văn học > Chân dung văn học >

    Bảo Ninh: Thời tiết của ký ức

    - Có một buổi chiều muộn cuối thu, mưa sầm sập, cơ quan về hết, tôi đang ngồi trong căn phòng ẩm ướt của dãy nhà cấp bốn dưới giàn nho xác xơ cùng bao nhiêu ý nghĩ ẩm ướt và cũng xác xơ ở ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế. Chợt thấy bóng một người lúp xúp chạy từ ngoài cổng vào, tay cắp ô, vai đeo một cái túi gì dài. Tưởng bạn rượu nào, hóa ra giáo sư Hoàng Ngọc Hiến.

    Nhà văn Bảo Ninh Ảnh: Nguyễn Đình Toán

    Nhà văn Bảo Ninh Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

     

    Hồi đó ông mới độ ngoài 50, bọn tôi vẫn gọi anh xưng em như ngày nào trong trường viết văn Nguyễn Du mà ông làm trưởng lão. Ông lập cập vô phòng, người ướt sũng. Tôi gỡ túi thể thao dài và lủng củng của ông ra, thấy có áo mưa, bèn trêu:

     

    - Khiếp! Cụ đi chơi ten - nít ngang bằng ngài Xuân Tóc Đỏ? Áo mưa thì cất trong túi, ô cắp nách giữa lúc mưa to thế này?

    Hoàng Ngọc Hiến vò đầu bằng cái khăn mặt mới toanh của tôi, rộn rã:

    - Mình đem đến cho cậu cái truyện mới của một người viết mới toanh. Truyện hay hơn tất cả cái cậu có trên bàn mà nó lạ lắm. Lạ và hay.

    Biết tính thầy nên tôi không vội “lạ” và “hay”, mà ra thềm gọi với lên phòng Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường), cũng là tay ở độc thân, tính gầy cuộc nhậu:

     

    - Xuống làm ly, có cụ Hiến đến chơi!

    Khắc Trường lệnh khệnh xuống, tóc tai phờ phạc, vẻ như người vừa ăn no. Hồi này y đang viết dài.

    Hoàng Ngọc Hiến lấy trong túi ra bọc ni lông. Một tập bản thảo. Trịnh trọng chỉ vào đó, nói lại câu “lạ” và “hay” rồi đưa cho tôi:

    - Các cậu đọc ngay nhé. Cũng là lính Tây Nguyên như các cậu, nhưng viết lạ lắm.

    Rồi chua thêm:

     

    - Cậu này là con ông bạn thân. Nhưng tôi không nhờ các cậu gì mà là đem cho các cậu đọc để biết một cái mới. Mới và lạ.

    Tôi lấy chai rượu từ gầm bàn ra rót tràn ba ly, trong đầu tràn ý nghĩ khôi hài:

    - Kính cụ. Rượu Sán Lùng thằng bạn em mới tập uống gởi từ Lào Cai về, ngon và lạ lắm.

    Ba thầy trò cụng ly.

     

    Ông thầy nhiều nét ngây ngô với đời sống say sưa kể câu chuyện lạ, về cách kể chuyện lạ, về lối viết mới, mỹ cảm mới, tài năng mới và về thế hệ chống Mỹ mới…

     

    Đó là lần đầu tôi “gặp” Bảo Ninh– bút danh của Hoàng Ấu Phương. Sau lần gặp gỡ do Hoàng Ngọc Hiến giới thiệu, chúng tôi đánh bạn với nhau cho tới bây giờ.

    Nhớ lại ngày đọc cái truyện ngắn lạ lùng có tên cũng lạ lùng Trại bẩy chú lùn, tôi khá hồ hởi cùng trưởng ban Văn Nguyễn Khắc Trường đề nghị in ngay số tháng ấy. Cái duyên “cùng chiến trường” nó quyện lấy nhau bằng không biết bao nhiêu cuộc nâng lên đặt xuống, chén thù chén tạc. Chén chú chén anh. Chén địa phương chén chủ lực. Chén tao chén mày. Chén quá khứ chén tương lai. Chén Tây Nguyên chén Trường Sơn. Chén nhà quê chén thành thị. Chén đời, chén đạo. Chén lung tung, bát nháo.

     

     

     

    Một hôm, có chú em là nhà báo Đoàn Minh Phụng từ Gia Lai ra học Hà Nội. Phụng rủ ông anh đi nhậu. Tôi và Phụng thân nhau từ trong rừng, khi tôi mới chân ướt chân ráo ngoài Bắc vô tới. Lúc đó tôi 19 tuổi, còn Phụng 12, 13 dân từ ấp “nhảy núi”, ngó bộ có vẻ thành thạo đạn bom. Phụng là người thầy đầu tiên dạy tôi biết thế nào là chiến tranh, bom đạn, ta địch, máy bay máy bò, người địa phương. Hai anh em cứ “hồi ký” và uống. Uống và “hồi ký”.

     

    Bảo Ninh ngồi im, ậm à ậm ừ, rót tì tì, uống tì tì nhưng vẻ mặt thờ ơ, miệng lẩm bẩm, chả ra hưởng ứng, cũng chả ra không. Cho đến cái đoạn Phụng kể tôi bị thương, chú Quảng y tá huyện đội cắt bộ quần áo của tôi kết đẫm máu, ném vào cái vũng dưới vòi nước, tính ngâm cho bở để sáng ra giặt, nào ngờ toán đi công tác về khuya, qua đó thi nhau vục nước uống, khi phát hiện ra máu thì thi nhau móc họng ói mửa.

     

    Bảo Ninh cầm ly rượu cụng với tôi và Phụng, nói vẻ kẻ cả:

    -Bọn lính địa phương các ông cũng có lắm chuyện nhỉ.

    Phụng được đà kể thêm những đêm vô ấp gây cơ sở, những ngày hạ cây đốt rẫy với đồng bào BahNar, những chuyến đi đồng bằng cõng muối cõng gạo…

    Bảo Ninh ngồi “một đống” nghe chẳng ra nghe, nói lẩm bẩm một mình như thằng tâm thần. Cuối cuộc khi tôi đòi về, hắn bảo tôi, hôm rồi tôi về Đăk Tô thấy lão gác nghĩa trang nom giống ông như đúc. Vớ vẩn!

     

    ************

    Cho tới bây giờ, các sáng tác của nhà văn Bảo Ninh vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng, mặc dù nó được giới chuyên môn bên ngoài đánh giá cao. Ở ta, đặc biệt giới phê bình văn học tôi chưa thấy có bài nào “ra ngô ra khoai”. Các nhà nghiên cứu phê bình văn học đa số lẩn tránh vào các đề tài chung chung, khen thoải mái, chê có mức độ và hy vọng tràn trề ở tác phẩm sau.

     

    Về báo chí thì khỏi nói, khi Nỗi buồn chiến tranh được Hội Nhà văn trao giải, nhiều bài viết về nó, khen lẫn chê. Một phần khen do sự bốc đồng vội vã, trong một bối cảnh khá xung đột về thời thế và quan niệm thẩm mỹ. Bởi “nhạy cảm“ nên Nỗi buồn chiến tranh được nhà xuất bản cho lánh tên sang cái tên trung tính vô thưởng vô phạt Thân phận của tình yêu. Thời trước đó các nhà “khen học” mọc lên như nấm, điển hình là cái truyện Cù lao Tràm tưởng là kiệt tác đã tìm ra chân lý mới cho XHCN.

     

    Đối trọng với các nhà “khen học” là các nhà “đánh học” được báo chí ưu ái, phang tới số những truyện “có vấn đề nhạy cảm” khiến dư luận mất phương hướng, nhiều nơi bị hiểu lầm.

     

    Bảo Ninh ngồi giữa các sự kiện và cũng gật gù tán thưởng, cũng ậm ờ lẩm bẩm giữa những khen chê ồn ã, thái độ nửa tỉnh nửa say, giống như hôm nào ngồi nghe tôi và Đoàn Minh Phụng uống rượu “hồi ký chiến tranh”. Một phép ứng xử tuyệt vời không phải ai cũng có.

    Anh vốn là con của một gia đình trí thức lớn, học hành rất chu đáo. Lớn lên gặp buổi chiến tranh, như hầu hết thanh niên trí thức thời ấy. Và đăng lính, vào chiến đấu trong chiến trường B3 (Tây Nguyên) trong một đơn vị chủ lực. Sau chiến tranh, anh tiếp tục theo học đại học và sau đó về công tác tại một viện khoa học. Bản chất người lính và những gì đã trải qua trong cuộc chiến, nhất là những kỷ niệm với bạn bè, đồng đội đã thôi thúc anh cầm bút. Những truyện ngắn đầu tiên đăng Văn nghệ Quân đội do giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đưa tận tay các biên tập viên là một lời chào hồn nhiên, lịch lãm với giới sáng tác văn học.

    Sau đó, anh vào trường viết văn Nguyễn Du một cách khiêm tốn. Đọc những truyện ngắn đầu tiên của Bảo Ninh, người ta nhận ngay ra một người lính có tâm hồn khá lãng mạn và phóng túng. Một người lính từng trải dễ xúc động bởi những gợi cảm ngẫu hứng do tác động mạnh của đời sống thời chiến khốc liệt.

     

    Sự xuất hiện của anh không đột ngột, ồn ào, không khiến người ta phải sững sờ chú ý. Chỉ đến khi tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và Hội nhà văn Việt Nam trao giải, anh được coi là hiện tượng văn học với nhiều ý kiến trái ngược. Cũng từ đó, anh luôn ngồi giữa khen chê, tâng bốc lẫn mạt sát đúng và cả không đúng về mình.

     

     

    Nỗi buồn chiến tranh quả là cuốn tiểu thuyết có nhiều điều đáng bàn. Cái đáng bàn nhất là vì đó là cuốn sách thực sự gây được cảm xúc đối với người đọc. Một cuốn sách có sức lôi cuốn cả người khen lẫn người chê, mà tác giả của nó chỉ có thể là người “ngơ ngác” nhất trước những cảm xúc không ngờ mà nó đã tạo ra. Bảo Ninh vốn là người không có khiếu giao tiếp, ít có khả năng biểu đạt cảm xúc của mình trước đám đông, nhưng bản tính rất mẫn cảm.

     

    Bảo Ninh ngồi im, ậm à ậm ừ, rót tì tì, uống tì tì nhưng vẻ mặt thờ ơ, miệng lẩm bẩm, chả ra hưởng ứng, cũng chả ra không".

    Chính sự mẫn cảm ấy đã mách bảo anh nhận thức được mình trong qúa trình sống và nhất là quá trình sáng tạo. Con đường dẫn anh tới tài năng nghệ thuật là con đường được soi sáng bằng thứ ánh sáng bột phát của sự mẫn cảm. Nó được phát ra từ tiềm thức, từ một bệ phóng được xây nền bằng thứ vật liệu đặc biệt, vật liệu của văn hóa truyền thống của gia đình anh, mà trực tiếp là người cha khả kính - giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Tuệ. Nó chỉ được phát sáng khi anh co vào cõi sâu kín tột cùng của cái “tôi” thuần tuý.

     

    Anh không có thói quen cưỡng lại nó và thậm chí còn khoái cảm khi tiếp nhận nó. Chính vì thế bản năng nghệ thuật trong anh được kích động và cái “tôi” tự nó được siêu thoát. Và thế là anh thành kẻ lữ hành cô đơn. Anh đã toan dừng lại, nhưng không dừng được. Những truyện ngắn Thời tiết của ký ức, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ… và các tản văn điềm tĩnh, lấp lánh lên sau “nỗi buồn chiến tranh” nhắc ta có một Bảo Ninh đang tiếp tục vận hành bộ máy tri thức và những ký ức đầy ắp những gian lao của đời người. Anh quá biết, nếu dừng lại thì anh sẽ không bao giờ có thứ ánh sáng đã được thắp lên kia.

    Và giờ đây, thời gian đã cho phép chúng ta không còn nôn nóng khen chê nữa.

     

    Trung Trung Đỉnh

     

    Nguồn: Tiền phong

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 15:30 09/04/2012
    Số lượt xem: 360
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi