Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Theo dòng lịch sử > Sử Việt >

    CHÍNH SÁCH DÙNG NGƯỜI CỦA TRIỀU NGUYỄN

    Việc sử dụng người trong bộ máy nhà nước liên quan mật thiết đến sự hưng thịnh của quốc gia. Chính vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề này. Triều Nguyễn cũng không phải là một ngoại lệ. Dưới triều đại này, nguồn nhân tài hay hiền tài để tăng cường vào bộ máy quản lý các cấp thông qua hai con đường: tiến cử (hay bảo cử) và khoa cử nho học, bên cạnh những người thuộc anh em thân tộc của nhà vua.

     

     

    1. Dùng người thông qua tiến cử

     

    Tiến cử là hình thức một người có thực tài được một vị quan (có uy tín) của triều đình bảo lãnh, giới thiệu lên để nhà vua xem xét, cân nhắc bổ dụng. Sách lược dùng người thông qua tiến cử nhằm khắc phục tình trạng bỏ sót nhân tài. Vì một số người có thực tài nhưng lận đận trong đường khoa cử hoặc vì một lý do nào đó mà họ không tham gia khoa cử được.

    Thời vua Gia Long, phần vì do việc khoa cử chưa đi vào nền nếp, nhà vua chủ yếu sử dụng đội ngũ công thần trung hưng đã kề vai sát cánh cùng nhà vua dựng nên vương triều Nguyễn. Những người đỗ đạt cao trong bộ máy quan lại dưới thời vua Gia Long trị vì chiếm tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, từ thời vua Minh Mạng cho đến Thiệu Trị, Tự Đức, khi khoa cử đã trở nên phổ biến, việc tiến cử cũng vẫn tiếp tục được tiến hành.

    Gia Long năm thứ 11 (1812) ban chỉ: “Quan viên văn võ từ nay trở đi phàm có cử người mình biết, viên nào làm chức nào, phải cung khai cam kết ở trong đơn cử; nếu viên được cử sau này có phạm lỗi nhận của lót và không làm được việc thì viên quan cử ra đều bị liên quan; nếu trong đơn cử, không có lời cam kết, bộ Lại không được chấp nhận tờ tâu" (1).

     

     

    Trong rất nhiều chiếu, dụ, vua Minh Mạng thường hay nhắc đến hai chữ thực tài. Ngay từ năm đầu lên ngôi, Minh Mạng đã xuống chiếu nói rõ tầm quan trọng của việc dùng người thông qua hình thức tiến cử: “Người hiền tài là của quý của nhà nước. Cho nên ngoài khoa mục ra, phải mời đến công cử để muốn trong triều có nhiều kẻ sĩ tốt lành, thôn quê không bỏ sót người hiền để phò vua rạng rỡ, cai trị giáo hóa thành thục... Ở kinh thì văn từ tham tri 6 bộ trở lên, võ từ phó đô thống trở lên; ở ngoài thì tất cả quan các thành, doanh, trấn đều cử người văn học hiền lành, ngay thẳng, không cứ nhà hèn hay họ sang, cốt lấy được thực tài, do bộ Lại chịu trách nhiệm tâu lên chờ chỉ để cho triệu, tùy tài mà bổ dụng..." (2).

     

    Trong suốt 21 năm trị vì, vua Minh Mạng thường xuyên chú ý tới vấn đề này. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của nội các triều Nguyễn có ghi lại 11 lần vua Minh Mạng ban dụ để cầu người hiền tài, yêu cầu tiến cử người hiền tài tham gia vào bộ máy hành chính nhà nước.

    Các vị vua Nguyễn kế tiếp là Thiệu Trị và Tự Đức vẫn duy trì cách dùng người thông qua tiến cử, bảo cử. Những chiếu, dụ cầu hiền tiếp tục được ban bố. Vua Tự Đức vừa lên ngôi cũng ban ngay dụ yêu cầu quần thần tiến cử người tài. “Tiến người hiền để mưu việc nước, cũng là việc đầu tiên yêu vua” (3), “không cứ hạt mình hay vệ khác, người nào hễ có phẩm chất tốt, thanh liêm tài cán rõ rệt” thì “trẫm sẽ xem xét tính nết, tùy tài tùy dụng” và “xét được việc thực, trẫm sẽ bổ dụng ngay” (4).

    Thực tế cho thấy không ít những người tài giỏi lại không đỗ cao, thậm chí còn không đỗ qua bất kỳ một cấp thi tuyển nào. Chính vì thế, hình thức tiến cử, bảo cử sẽ thu hút họ phát huy năng lực, tham gia vào xây dựng bộ máy nhà nước. Trường hợp Phan Huy Chú (1782 - 1840) là một ví dụ. Ông chỉ đỗ tú tài nhưng lại được cử làm quan dưới triều Minh Mạng vì nổi tiếng văn hay, là tác giả của hàng loạt bộ sách như: Lịch triều hiến chương loại chíHoàng Việt dư địa chí,... Hoặc Vũ Văn Giải, người tỉnh Quảng Ngãi được các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức sử dụng. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ xét công, vua cho là Văn Giải làm việc nhanh giỏi, đến năm 1847, ông được nhà vua thưởng cho một cấp là Tiền quân Đô thống phủ đô thống chưởng phủ sự. Đến năm 1849, khi vua Tự Đức dựng bia An Tây vũ công, Văn Giải là người đứng đầu.

    Cách nhìn nhận về người tài của các vị vua đầu triều Nguyễn cũng hết sức cởi mở. Người tài không nhất thiết phải là người toàn bích, tinh thông mọi lĩnh vực. Vua Minh Mạng quan niệm: “Dùng người cũng như dùng đồ vật, không cần phải đủ các tài. Nếu nay có người học rộng văn hay, am thuộc kinh điển cũ, cho đến người có một tài, một nghề có thể đem thực dụng được, cho phép thân đến các nha ở chỗ hành tại này (chỗ vua dừng chân), hoặc đến các thành, các trấn chuẩn cho các quan đem tâu lên, trẫm sai người sát hạch quả có thực tài, sẽ sao lục để dùng” (5).

    Còn vua Thiệu Trị ban dụ rằng: “Ngay lúc mới lên ngôi, đã nghiêm ngặt như cầm dây cương mục mà điều khiển 6 con ngựa, chính muốn thu hết người tài giỏi, rộng mở tầm nhìn, mong có bổ ích… để tùy tài bổ dụng, càng nghĩ cử người hiền không giống nhau, hoặc cử về tính nết, hoặc cử về ngôn ngữ, không thể hạn bằng một cách, phải nên xét rộng khắp” và “truyền dụ cho các tỉnh phải xét hỏi kỹ hơn”, khi tìm được người hiền tài thì “cho mang lễ triệu mời, để tỏ thịnh ý bỏ trống ngôi cao mà cầu người hiền tài” (6).

     

     

    2. Dùng người qua khoa cử Nho học

     

    Tuy nhiên, ngay cả khi khao khát có nhân tài, khi chưa thể tổ chức khoa nho học thì từ năm 1807, vua Gia Long đã hạ chiếu nói rõ tầm quan trọng của chế độ thi cử: “Nhà nước cầu nhân tài, tất do đường khoa mục. Tiên triều ta, chế độ khoa cử đời nào cũng có cử hành... Nay thiên hạ cả định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính là việc cần kíp. Đã từng xuống sắc định phép thi: kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu; kỳ đệ tam thi thơ; kỳ đệ tứ thi văn sách. Lấy tháng 10 năm nay mở khoa thi Hội. Bọn học trò các người đều nên dùi mài việc học, để đáp lại cái ơn tôn chuộng nghề văn”(7).

    Cho đến khi Minh Mạng lên ngôi, ông lại ban chiếu tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của khoa cử: “Tuyển cử hiền tài là thịnh điển đời minh vương; cho nên nhà nước dùng người, phần nhiều chọn ở trong khoa mục. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, sau khi đại định mở khoa thi hương, có đủ quy thức. Trẫm nối ngôi đến nay, luôn nghĩ đến việc cất nhắc nhân tài. Trước đã mở ân khoa thi hương, thi hội để mở rộng việc thu dùng. Nay vẫn chuẩn cho mùa thu Ất Dậu, năm Minh Mạng thứ 6, mở khoa thi hương”(8). Và cũng phải đến khi Minh Mạng lên ngôi, khoa thi hội, thi đình đầu tiên của triều Nguyễn mới được mở, lệ thi 6 năm một lần từ thời Gia Long rút xuống còn 3 năm một lần.

    Việc mở mang khoa cử làm cơ sở cho việc tuyển chọn quan lại không chỉ đáp ứng nhu cầu của bộ máy quản lý hành chính mà đã thực sự phản ánh chủ trương rộng mở trong việc dùng người. Có thể thấy, chủ trương dùng người của triều Nguyễn khá giống với triều Lê nhưng hoàn toàn khác với chính sách dùng người thân với phương châm tông tử duy thành (dùng con em làm thành trì) như triều Trần.

    Dưới thời Gia Long, đội ngũ quan lại phần lớn là những công thần chưa qua khoa cử. Sang đến thời Minh Mạng và các ông vua Nguyễn kế tiếp, khoa cử đã đi vào nề nếp và trở thành nơi cung cấp nguồn quan lại chủ yếu cho bộ máy chính quyền. Để trở thành người có chức vụ trong bộ máy quản lý nhà nước, nhìn chung, phải trải qua một thời gian đào tạo, đi học và thi đỗ. Đó là điều kiện bắt buộc đối với các quan từ cấp huyện trở lên. Tầng lớp lại viên, thuộc viên đều phải có học nhưng không nhất thiết phải đỗ đạt. Người được bổ nhiệm giữ chức vụ tri huyện, về nguyên tắc, bắt buộc phải có trình độ cử nhân. Chính vì coi trọng việc học hành, khoa cử và làm tốt khâu tuyển chọn nên bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn ngày càng có sự phát triển hoàn chỉnh hơn.

    Tuy khao khát cầu hiền tài, rộng rãi trong việc tuyển lựa người nhưng Minh Mạng cũng lưu ý quần thần trong việc dùng người. "Triều đình bổ dùng, thường thường chú trọng việc cử người. Từng lo số người không đủ, mà nếu bổ dùng bừa bãi, thì sắc son, sắc tía lẫn lộn, làm sao giữ trong sạch được quan trường để có ích cho việc cai trị. Nói tóm lại là dùng người phải cẩn thận"(9).

    Trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện, phần về các quan được chép thành truyện riêng: có 346 người (dưới 4 triều vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức). Trong đó, số quan lại xuất thân từ khoa cử là 247 người, số quan lại không thi cử nhưng được triều Nguyễn dùng là 99 người, cụ thể như sau:

     

     

    STT

     

    Triều vua

     

    Tổng số

     

    Trong đó

     

    Quan lại xuất thân từ khoa cử

     

    %

     

    Quan lại do tiến cử, bảo cử

     

    %

    1

    Gia Long

     58

    20

     

    34,5

    38

     

    66,5

    2

    Minh Mạng

    127

    95

     

    74,8

    32

     

    25,2

    3

    Thiệu Trị

     63

    49

     

    77,8

    14

     

    22,2

    4

    Tự Đức

     98

    83

     

    84,7

    15

     

    15,3

     

    Tổng cộng

     

    346

     

    247

     

    71,4

     

    99

     

    28,6

     

     

     

     

    Theo số liệu thống kê ở trên có thể thấy :

    Bộ máy quan lại triều Nguyễn từ 1802 đến 1883 được hình thành thông qua 2 cách: khoa cử và tiến cử.

    Về chung cục, trong hơn 80 năm đó, số lượng quan xuất thân từ khoa cử nho học chiếm gần 3/4 (71,4%), số quan xuất thân từ bảo cử chỉ chiếm hơn 1/4 (28,6%)

    Tuy số lượng tuyệt đối của các quan khác nhau, nhưng tỷ trọng số quan lại xuất thân từ khoa cử qua 4 triều vua tăng dần từ 34,5% đến 74% và 77% dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị và tới trên 84 % dưới triều Tự Đức.

    Trong 4 triều vua, chỉ riêng 20 năm thời vua Gia Long, vị vua đầu triều Nguyễn, số lượng quan xuất thân từ bảo cử, tiến cử chiếm đa số (trên 60%). Nhưng bắt đầu từ thời Minh Mạng, tỷ lệ các quan xuất thân từ khoa cử nho học tăng lên đột ngột, và từ đó qua thời Thiệu Trị đến thời Tự Đức, số quan xuất thân từ khoa cử nho học luôn chiếm phần lớn.

    Tình hình trên cho thấy: nào thời kỳ đầu, do vương triều vừa thiết lập, chế độ khoa cử chưa đi vào quy củ (6 năm một khoa) nên đội ngũ quan lại xuất thân từ khoa cử còn hiếm. Nhưng từ thời vua Minh Mạng trở đi, việc khoa cử đã đi vào nền nếp, vì thế đội ngũ quan lại xuất thân từ khoa cử chiếm phần lớn, tỷ lệ quan lại do tiến cử, bảo cử giảm đi đáng kể. Đến thời Tự Đức, số quan lại xuất thân từ khoa cử đã gấp hơn 5 lần số quan lại tiến cử, bảo cử.

    Nhìn lại lịch sử khoa cử và chính sách dùng người của các vị vua đầu triều Nguyễn, có thể nhận thấy, việc sử dụng công thần trong những ngày đầu khởi nghiệp đã khá nhanh chóng được thay thế bằng việc sử dụng các nho thần. Về cơ bản, chế độ sử dụng quan chức - nhân sự nòng cốt của triều Nguyễn chủ yếu là dựa vào đội ngũ xuất thân từ khoa cử nho học.

    Đào tạo và sử dụng nhân tài trong việc cai quản đất nước và chăm lo dân chúng là một nguyên tắc chính trị, một chính sách quan trọng của nhà nước. Các vị vua đầu triều Nguyễn đã nắm bắt được tinh thần quý báu của văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống, đó là tinh thần tôn trọng hiền tài trong việc trị nước. Chủ trương dùng người mềm dẻo, linh hoạt và thực dụng của các vị vua đầu triều Nguyễn đã đem lại những hiệu ích đáng kể. Cả hai cách thức dùng người thông qua thi cử hay tiến cử cuối cùng đều hướng đến một mục đích chung là tìm ra người giỏi để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước. Chính vì vậy, quan lại trong bộ máy hành chính triều Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1884) được đánh giá là hoạt động khá hiệu quả trong chức phận của họ.

    _______________

    1, 2, 3, 4. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệtập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.310, 311, 319, 320.

    5, 6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mạng chính yếutập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994, tr.150, 317.

    7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.691.

    8. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệtập 7, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.203.

                    9. Quốc sử quán triều NguyễnĐại Nam thực lục chính biên, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.672.

     

    Nguồn: Tạp chí VHNT số 334, tháng 4-2012
    Tác giả: Vũ Phương Hậ

    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 12:56 28/07/2012
    Số lượt xem: 323
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi