Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    1 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn thơ > Thơ và những lời bình >

    "Cổng làng" của Bàng Bá Lân - Một “bông hoa khả ái”

    Bàng Bá Lân (17-12-1912/20-10-1988) (*) tên thật là Nguyễn Xuân Lân, chính quê tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nhưng sinh ra ở phố Tân Minh, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Bàng Bá Lân từng học Trường Bưởi, Hà Nội, có bằng Thành chung. Ông là một nhà thơ đồng quê nổi tiếng của Phong trào Thơ Mới, đồng thời là một nhà giáo, nhà nhiếp ảnh có tài năng. Bàng Bá Lân làm thơ, viết truyện, viết phiếm luận và cả sách giáo khoa, nhưng có giá trị hơn cả, là những tập thơ: “Tiếng thông reo” (1934), “Xưa” (1941- in chung với nữ sĩ Anh Thơ), “Tiếng sáo diều” (1939-1945), “Tiếng võng đưa” (1957), “Vào thu” (1969).

    Trong “Thi nhân Việt Nam, 1932-1941”, Hoài Thanh và Hoài Chân nhận xét về thơ đồng quê xứ Bắc: “Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn, nên chỉ thấy cảnh quê. Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính. Bàng Bá Lân cũng ít sống trong tình quê. Nhưng người hiểu cảnh quê hơn Anh Thơ; hiểu hơn vì mến hơn. Thơ Bàng Bá Lân và “Bức tranh quê” đều là những bông hoa khả ái từ xa mới đưa về, nhưng bông hoa Bàng Bá Lân ra chiều đã thuộc thủy thổ hơn. Cho nên sắc hương nó cũng khác”. Đúng vậy. Có lẽ sắc hương đồng quê trong thơ Bàng Bá Lân đọng lại tinh túy nhất là bài “Cổng làng”, in trong tập “Tiếng sáo diều”:

    “Chiều hôm đón mát cổng làng,
    Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi,
    Đồng quê vờn lượn chân trời,
    Đường quê quanh quất bao người về thôn.
    Sáng hồng lơ lửng mây son,
    Mặt trời thức giấc, véo von chim chào.
    Cổng làng rộng mở. Ồn ào,
    Nông phu lững thững đi vào nắng mai.
    Trưa hè bóng lặng nắng oi,
    Mái gà cục cục tìm mồi dắt con.
    Cổng làng vài chị gái son
    Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.
    Những khi gió lạnh mưa buồn,
    Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn.
    Nhưng khi trăng sáng chập chờn,
    Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.
    Ngày mùa lúa chín thơm đưa ...
    Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng.
    Mừng xuân ngày hội cổng làng
    Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ.
    Ngày nay dù ở nơi xa,
    Nhưng khi về đến cây đa đầu làng,
    Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
    Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre”.

    “Cổng làng” của Bàng Bá Lân cuốn hút người đọc một cách kỳ lạ, nhẹ nhàng êm dịu mà đằm thắm, thiết tha, nhất là đối với những người đã ít nhiều năm từng sống ở các làng quê xứ Bắc. Tôi được học bài này trong sách giáo khoa tiểu học từ năm 1953, đến bây giờ, ngót sáu thập niên, vẫn thuộc, vẫn nhớ bài thơ “khả ái” này, không lẫn với các bài thơ cảnh quê, tình quê của bất cứ tác giả nào khác, từ thời Thơ Mới cho đến nay.

    Đầu tiên là cảnh cổng làng lúc chiều hôm. Đây là thời điểm điển hình nhất của cổng làng, tập trung cảnh sắc đất trời làng quê: Có mây gió, có cánh đồng mênh mang sóng lúa, có con đường uốn khúc quanh co và những con người nơi thôn dã, với những nét bình dị, thân quen: “Chiều hôm đón mát cổng làng…”.

    Tiếp đó là cảnh cổng làng buổi bình minh- thời điểm rộn rã nhất của làng quê: “Sáng hồng lơ lửng mây son…”. Cảnh vật được thể hiện thật hồn nhiên, hài hòa giữa màu sắc tươi sáng của mây trời lúc rạng đông, với âm thanh trong trẻo của tiếng chim hót và tiếng nói, tiếng cười của đám nông phu. Hai câu thơ “Cổng làng rộng mở. Ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai”: Câu “lục” được ngắt nhịp bất ngờ, tách riêng “Ồn ào” thành một câu đặc biệt, gợi mở niềm vui một ngày mới và sự náo nhiệt nơi cổng làng buổi sáng tinh mơ; đồng thời làm ta nhớ tới cách ngắt nhịp độc đáo và mới mẻ trong hai câu tuyệt bút của thi sĩ tài danh Thế Lữ: “Trời cao xanh ngắt. Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về Bồng lai” (“Tiếng sáo thiên thai”).

    Còn đây là cảnh cổng làng lúc mặt trời đứng bóng: “Trưa hè bóng lặng nắng oi/ Mái gà cục cục tìm mồi dắt con/ Cổng làng vài chị gái son/ Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm”. Cổng làng buổi trưa hè được thi sĩ quan sát tinh tế và miêu tả chân thực. Từ “uể oải” vốn không mấy giá trị thẩm mỹ, nhưng đi liền với hình ảnh “vài chị gái son ... chờ cơn gió nồm” thì lại có sức gợi cảm một cách rất tài tình.

    Không gian nơi cổng làng còn được nhà thơ phác họa khéo léo qua những nét biến đổi thời gian theo mùa vụ. Trong tiết thu đông có mưa, cổng làng vắng lạnh, hiu hắt: “Những khi gió lạnh mưa buồn/ Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn”. Và bỗng trở nên đẹp một cách huyền ảo, quyến rũ trong đêm trăng sáng thơ mộng, thấp thoáng những bóng hình thiếu nữ: “Nhưng khi trăng sáng chập chờn/ Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha”.

    Quang cảnh cổng làng lướt nhanh qua vụ mùa thơm hương lúa chín, rồi mùa đông trôi đi nhưng dư vị vẫn còn đọng lại, còn mùa xuân thì chầm chậm đến. Và đây là cảnh hội làng mùa xuân nhộn nhịp, hấp dẫn, rất đáng yêu: “Mừng xuân ngày hội cổng làng/ Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ”.

    Bàng Bá Lân coi trọng cảnh quê, còn tình quê thì chỉ biểu hiện một cách kín đáo. Nhưng đến khổ cuối của bài thơ, thi sĩ không kìm nén được cảm xúc yêu mến làng quê, tha thiết nhớ những kỷ niệm, qua cái cổng làng đã từng gắn bó một thời: “Ngày nay dù ở nơi xa/ Nhưng khi về đến cây đa đầu làng/ Thì bao nhiêu cảnh mơ màng/ Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre”. Tình quê bây giờ da diết thế!

    Bây giờ, thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH, các cổng làng thân quen, đáng yêu của các làng quê Bắc Bộ hầu như không còn nữa. Nhưng với bài thơ “Cổng làng” của Bàng Bá Lân, nhiều người chúng ta hôm nay vẫn lưu luyến, nhớ nhung cái cổng làng quê thân yêu và giầu kỷ niệm một thời.

    ĐÀO NGỌC ĐỆ

    ((*) Chú thích: Trong “Thi nhân Việt Nam, 1932-1941” của Hoài Thanh, Hoài Chân, in năm sinh của Bàng Bá Lân là năm 1913)

    ( Theo Báo QĐND)

    Giới thiệu thi sĩ Bàng Bá Lân

     

    Bàng Bá Lân tên thật là Nguyễn Xuân Lân, sinh 1913 (tháng Chạp năm Nhâm Tý -Theo Hoài Thanh, ''Thi nhân Việt Nam''). Riêng Nguyễn Tấn Long, ''Thi nhân tiền chiến'', ghi ông sinh năm 1912 . Ông mất năm 1988, là một nhà thơ Việt Nam.

     

    I.Tiểu sử sơ lược:

    Bàng Bá Lân sinh ở phố Tân Ninh, Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang , thuộc tỉnh Bắc Giang). Nguyên quán tại làng Đôn Thư, phủ Bình Lục (tỉnh Hà Nam). Học trường Vôi (Bắc Giang), trường Phủ Lý, trường Phủ Lạng Thương, trường Bảo Hộ Hà Nội. Có bằng thành chung.

     

    Trước Cách mạng tháng Tám ông đã có những tác phẩm ''Tiếng thông reo'' (1934). ''Xưa'' (hợp tác với Anh Thơ, 1941) Tiếng sáo diều (1939 - 1945).

     

    Vào Sài Gòn, ông dạy học và cộng tác với nhiều nhật báo, tuần san, bán nguyệt san và xuất bản thêm: ''Thơ Bàng Bá Lân'' (1957), ''Tiếng võng đưa'' (1957), ''Vào thu'' (chưa rõ năm xuất bản). Ngoài ra ông còn cho in hai quyển sách ''Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại'' cùng một số sách ''Giáo khoa Việt văn'' cho nhiều cấp lớp…

     

    II. Đôi nét về văn nghiệp:

    Trong ''Thi nhân Việt Nam'', Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét về thơ của ông như sau:

     

    "Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ. Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng. Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ không nhà quê tí nào, Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê. Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính. Nhưng người hiểu cảnh quê hơn Anh Thơ; hiểu hơn vì mến hơn. Thơ Bàng Bá Lân và "Bức tranh quê" đều là những bông hoa khả ái từ xa mới về, nhưng bông hoa Bàng Bá Lân ra chiều thuộc thuỷ thổ hơn. Cho nên sắc hương của nó cũng khác.

     

    Bàng Bá Lân không có cái tỉ mỉ của Anh Thơ, không nhìn đủ hình dáng đời quê như Anh Thơ. Anh Thơ có khi nhìn cảnh không mến cảnh, Bàng Bá Lân có khi lại mến cảnh quên nhìn, nhưng đã lưu ý đến cảnh nào, Bàng Bá Lân thường lưu luyến cấnh ấy. Như khi người ta tả một buổi sáng:''

     

    Cổng làng rộng mở. Ồn ào

    Nông phu lững thững đi vào nắng mai…

     

    …Bởi thế có lúc người đã cảm được hồn quê vẫn bàng bạc sau cảnh vật. Tôi không biết làm thế nào nói cho ra điều này. Âu là cứ trích ít câu thơ của Bàng Bá Lân:

     

    Quán cũ nằm lười trong song nắng,

    Bà hàng thưa khách ngả thiu thiu,

    Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm...

    Đứng lặng trong mây một cánh diều...

    (NXB Văn học, 1988, tr.175-176)"

     

    Trong ''Thi nhân tiền chiến,'' Nguyễn Tấn Long cũng có nhận xét tương tự:

     

    "Thi sĩ Bàng Bá Lân là một nhà thơ đồng quê nổi tiếng, thường ghi lại những nếp sinh hoạt của người dân miền thôn dã. Một buổi chiều mùa hạ, cảnh hoàng hôn vào độ cuối thu, một miền đất Cà Mau trù phú, một đế đô Hà Nội mến yêu vv…là đề tài chính của thi sĩ nên được giới yêu thơ tặng cho danh hiệu “ nhà thơ của đồng áng”, thiết tưởng không có gì quá đáng.”(''Quyển thượng, NXB Sống Mới, Sài Gòn, năm 1968, tr.716)"''

     

    Gần đây hơn, Thái Tú Hạp trong ''Bàng Bá Lân và bản giao hưởng số 6'', đã viết rằng:

     

    "Những bài thơ mang tính chất mộc mạc, chứa chan hương đồng phấn nội của thi sĩ Bàng Bá Lân đã qua những thử thách trên sáu mươi năm đọc lại vẫn còn mới, nhất là đối với tâm trạng của chúng ta - ''lữ khách ngàn dặm xa cố quận'' - lại càng thắm thiết nồng nàn tình tự quê hương. Có thể những hình ảnh rất đơn sơ tầm thường như:

     

    Quê tôi có lúa, có dâu

    Có đàn cò trắng, có câu huê tình

    Có cây đa, có mái đình

    Có bầy thôn nữ xinh xinh dịu dàng

    Mùa thu có những hội làng

    Có cây đu buổi xuân sang dập dìu...

    Gió vi vu tiếng sáo diều

    Ru hồn mục tử chiều chiều trên đê...

    ( trích ''Quê tôi'', 1957)"

     

    Và Nguyễn Tấn Long cũng đã cho biết thêm:

     

    Ngoài khía cạnh độc đáo nhất của nhà thơ họ Bàng - loại thơ đồng quê. Đến đây chúng tôi xin nói đến phần khác: thi ca tình yêu.

    Về loại này, Bàng Bá Lân không có nhiều…Tuy nhiên trong số ít đó,ông cũng tỏ ra có một giọng thơ "mướt" khi tỏ tình yêu, nhưng là thứ tình yêu nhẹ nhàng của người Á Đông, dù yêu tha thiết cũng không bộc lộ sỗ sàng, nó phải là thứ "tình trong như đã mặt ngoài còn e"''(''sách đã dẫn, tr.729, xem bài "Tình trong mưa" bên dưới)."''

     

    III. giới thiệu:

    Tôi yêu tiếng Việt miền Nam

     

    Tôi yêu tiếng Việt miền Nam, 
    Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao. 
    Yêu xe thổ mộ xôn xao 
    Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê. 
    Tôi yêu đồng cỏ nắng se, 
    Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh. 
    Tôi yêu nắng lóa châu thành, 
    Trận mưa ngắn ngủi, gió lành hiu hiu. 
    Nơi đây tôi mến thương nhiều, 
    Miền Nam nước Việt mỹ miều làm sao! 
    Xa xôi hằng vẫn ước ao 
    Vào thăm vựa lúa xem sao, hỡi mình! 
    Chừ đây tình đã gặp tình, 
    Tưởng như trong đại gia đình đâu xa. 
    Người xem tôi tựa người nhà, 
    Người kêu thân mật tôi là: Thầy Hai! 
    Ðồng bào Nam Việt ta ơi! 
    Tôi yêu cặp mắt làn môi thiệt thà. 
    Nước non vẫn nước non nhà, 
    Bắc Nam xa mấy vẫn là anh em!


    (1954)

     

     

    Tình trong mưa

    Chiều ấy, mưa rào ở xóm Đông
    cho người ủ dột đứng bên song
    xa nhìn đắm đuối tìm trong gió
    chỉ thấy màn mưa trắng ngập đồng

    Ai biết mưa rơi nói những gì
    là buồn gieo lệ khóc lâm ly
    lòng bâng khuâng quá, xôn xao nhớ
    cả một tình yêu buổi ấu thì

    Một buổi nàng qua dưới mái hiên
    đường mưa in một gót chân tiên
    ta nhìn theo bước đi ren rén
    bỗng cả lòng yêu náo nức liền

    Từ ấy trên đường loang loáng mưa
    tìm hoài đâu thấy gót chân xưa
    đường mưa bao gót chân mưa bước
    gợi mãi tình yêu buổi dại khờ.

     

    Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn

     

    ( Bài viết đã được đưa vào Wikipedia tiếng Việt)



    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 14:21 03/04/2014
    Số lượt xem: 8472
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi