Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    2 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn Văn học > Chân dung văn học >

    Nguyễn Quang Thiều và Nguyễn Lương Ngọc, hành trình qua sa-mạc-thơ

    Đến với thi ca cách tân

     

    Chuyên đề do Văn nghệ Trẻ tổ chức

     

    Nguyễn Quang Thiều và Nguyễn Lương Ngọc, hành trình qua sa-mạc-thơ                         

     

                        Nguyễn Việt Chiến

     

    Những đám- mây- thơ thắp trên cây ánh sáng

     

       Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều Sinh năm 1957 ở Sơn Công, Ứng Hòa, Hà Tây, đã xuất bản 8 tập thơ, 15 tập văn xuôi, 3 tập sách dịch, từng được trao nhiều giải thưởng văn chương, hiện là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn VN. Những năm 90 của thế kỷ trước, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu có sự chuyển đổi lớn về mặt thi pháp và có thể nói, Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ đầu tiên, bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình, đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt.

     

      Cầm trên tay 2 tập thơ mới, nặng trĩu với hơn 500 trang viết của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều là “Châu thổ” và “Cây ánh sáng”, trước tiên, tôi có cảm giác, thơ anh lại bắt đầu một cơn giông lớn về ngôn ngữ để cuốn người đọc bay đi trên thảo nguyên mộng mỵ của thi ca đến những chân trời bất tận của thơ văn xuôi. Nhưng lần này thì khác, sau khi đọc xong 2 tập thơ mới, tôi thấy những đám- mây –thơ của anh, tuy vẫn cuồn cuộn sức sống thi ca nhưng lại đang thắp trên cái Cây ánh sáng những ngọn lửa của ngôn ngữ tình yêu và khát vọng sống đang bừng lên trên một sa-mạc-thơ. Tôi còn nhớ, trong một lần nói chuyện với nhau về thi ca đương đại, tôi ví Nguyễn Quang Thiều như một con lạc- đà-thơ, đang cõng một cơn- khát- thơ trên lưng, đi qua bóng đêm của một cơn khát lớn hơn có tên là sa-mạc-thơ. Anh cười và đồng ý. Bởi, trong bài thơ dài “Cây ánh sáng” anh đã nói về thiên chức của một nhà thơ như sau: “Lạc đà chất trên lưng không phải vàng bạc châu báu hay những túi nước ngọt mà là những bao tải cát để đi qua sa mạc cát/ Ôi đó có phải là trò đùa hay đó là phép thiêng giản dị và vô lý như cát trong những bao tải kia/ Nhưng lạc đà không chối bỏ những bao tải cát trên lưng và không dời bỏ những con đường sa mạc cát/ Lạc đà có thể gục ngã đâu đấy trong một ngày nào đấy trên cát và chỉ kêu lên một tiếng: Ôi sa mạc/ Sự khắc nghiệt độc ác của ngươi là thách thức khổng lồ, vực sâu tuyệt vọng và là bài ca kỳ vĩ của ta/ Sa mạc thè những cái lưỡi cát khổng lồ nuốt chàng vào sâu trong cái dạ dày lãng quên/ Nhưng chàng đã đứng dậy như lạc đà với sức nặng khủng khiếp chỉ của một hạt cát trên lưng, nhẫn nại và kiêu hãnh bước đi/ Hay chàng là một thi sĩ chân chính của xứ sở này không dối lừa mình, chàng là ví dụ của điên loạn đập cánh và sự dày vò như sóng bạc đầu của đại dương thanh sạch nhất thế gian/ Hay chàng là kẻ mang cơn mơ phá tung những bức tường, những cánh cửa của thế gian nơi chàng đang sống/Hay chàng chỉ là một ống họng khổng lồ rống vang hai tiếng khổng lồ đau đớn: Tự do…”. Với các bài thơ văn xuôi mang vẻ đẹp của những cơn giông lớn kiểu này, anh xứng đáng là một giọng thơ lực lưỡng, một nông phu thật sự vạm vỡ trên cánh đồng chữ nghĩa.

     

        Biết nhau đã nhiều năm nhưng mỗi lần ngồi trò chuyện với Nguyễn Quang Thiều về thi ca, tôi vẫn có một cảm giác lạ, hình như con người thơ trước mặt tôi đang tích tụ trong mình một năng- lượng -nhân - điện - sáng –tạo khá lớn. Nó có thể truyền dẫn, toả sóng sang bạn thơ (người đối thoại) một khát khao đổi mới thi ca và nó đánh thức trong ta một tiềm thức hoặc một cái gì đấy đang ngủ quên. Ngày ấy, cách đây hơn chục năm, căn buồng làm việc chật hẹp, cũ kỹ và bề bộn sách vở của Nguyễn Quang Thiều ở báo Văn Nghệ  thường là nơi tụ tập của các nhà thơ trẻ. Cứ mỗi lần đến báo Văn Nghệ, tôi thường rẽ vào căn phòng bừa bộn ấy. Chẳng phải để rượu chè, lai rai gì cả, chúng tôi ngồi nhấm nháp cái không khí thị vị của thơ ca đích thực giữa hai người viết. Những khi ấy, Thiều thường đọc cho tôi nghe những sáng tác mới nhất của anh, phần lớn là thơ dài. Một giọng thơ trầm ấm cất lên giữa bốn vách tường bề bộn sách vở. Có cảm tưởng, khi đọc thơ, Thiều giống như một nhà truyền giáo, đang oằn lưng gánh trên vai mình cái ách nặng nhọc và vinh quang của một nền tôn- giáo-thi-ca. Bộ ria rậm rạm và ánh nhìn nóng rực, chất chứa. Lúc ấy, những câu thơ chuyển động trong con người anh, luôn tỏa ra một khát khao sáng tạo không bờ bến để vượt qua bóng tối, cái bóng tối hữu hình và vô hình đang định nuốt chửng những câu thơ như trong bài thơ sau đây của anh: “Bóng tối nuốt chửng dòng chảy mọi con sông/Tôi sợ hãi bởi ý nghĩa này/ Chúng ta mang cảm giác bị xoá mất khỏi thế gian trong sự lãng quên/Nhưng không phải lãng quên mà sự lặng im/ Chúng ta từng hoảng loạn và bỏ chạy/Từ nơi chốn cuối cùng ngước lên và thấy những cái cây vút thẳng, câm lặng ý chí vĩnh hằng/Với những bước chân trong nghi lễ trọng đại/ Tôi bước tới cái cây đời sống/Mọc vượt qua bóng tối/ tán lá vĩ đại tỏa sáng/ Chúng ta ngỡ bóng tối chứa đầy vũ trụ/Thực ra chỉ mỏng như màng mắt người mù/ Và chỉ cần bước thêm một bước/Chúng ta sẽ sáng lên sau những hãi hùng”.

     

      Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều và một số nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 đã hướng đến một trường- tư - duy thẩm mỹ mới và hiện đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới với không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Thơ của Thiều như một bản giao hưởng của rất nhiều khái nhiệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm- cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm. Đọc thơ anh, ta có cảm giác vừa đi qua một cánh rừng thi ca rậm đặc, trong bóng đêm ẩm ướt của những câu thơ đang tuôn trào như một sự hối thúc ám ảnh: “Ra đi từ đêm/ Và bây giờ, những con bò bóng tối, đã đến/ Cánh đồng cuối cùng/ Suốt đêm tiếng rống đàn bò/ Rền rĩ những cánh đồng câm lặng/ Suốt đêm hơi thở đàn bò/ Phả nóng một đêm mua hạ/ Chúng đã đi hết đường cày cuối cùng/ Những chiếc ách biến mất gần sáng/ Dấu chân chúng đã điểm chỉ/ Trên những cánh đồng thế gian/ Trong ban mai đàn bò mỗi lúc vàng rực/Và tan vào ánh sáng…/Giờ chỉ còn lại những đám mây phiên bản của đàn bò/ bay trên cánh đồng của những con bò khác”.

     

        Các bài thơ của anh thường được khơi gợi và mở đầu bằng những hình ảnh. Qua sự mô tả ấy, anh đi tới lối khái quát tư duy bằng hình tượng để gợi mở không gian đa chiều của thơ qua ngôn ngữ hình ảnh mà đoạn thơ dưới đây là một biểu đạt: “Không thể nào tìm được người quen trong đêm nay/Tôi bò qua bậc cửa nhà mình/Con gián xoè cánh bay/Chuyến vận hành mung lung mang theo ổ trứng/ Vệt chói sáng ghê rợn và kỳ thú/Càng xa…càng gắt…càng tê liệt/Những rễ cây đang ân ái dưới đất nâu/Sự ân ái phì nhiêu và rụng lá/ Nhân loại bày ra trong giấc ngủ mộng mị/ Càng mơ càng cuống bước chân/ Không có bậc cửa nào cho tôi bò qua/ Những con sâu những vệt sáng ngần chảy từ gốc lên cành/ Chúng ngoan ngoãn liếm trăng trên những chiếc thìa lá mạ bạc/Lũ trẻ còng queo ngủ/Những dãy số đánh lừa và phản bội chúng/ Trong mơ chúng có liếm trăng trên vòm lá kia không?/ Sự cấu tạo trăng, sự cấu tạo côn trùng, sự cấu tạo người/ Sự cấu tạo nào nhiều máu hơn, sự cấu tạo nào nhiều bóng tối hơn”.Với Nguyễn Quang Thiều, nhiều trang thơ mới đã mở ra, nhiều khát vọng và đời sống mới đã được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ thơ của riêng anh và đấy chính là những đóng góp lớn của anh cho nền thơ đương đại.

     

    Những câu thơ “ Nung chảy mình ra mà tìm lõi”

     

      Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc sinh năm 1958 ở Sơn Tây. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư cơ điện, năm 1981, anh về công tác tại công trường thuỷ điện Sông Đà, bắt đầu sáng tác thơ, theo học Trường viết văn Nguyễn Du, rồi làm báo ở Hà Nội, đã in 4 tập thơ. Anh gặp hiểm nạn năm rồi qua đời năm 2001 khi mới 43 tuổi.

     

         Trong số những gương mặt thơ thời hậu chiến, mỗi lần nhớ về Nguyễn Lương Ngọc, tôi lại thấy trào lên một tiếc thương day dứt về tài năng thơ lớn này. Tuy ra đi ở tuổi 43, nhưng với 4 tập thơ để lại, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc đã hoàn thành sự nghiệp thơ lớn của đời mình. Lúc còn sống, cũng là lúc tài năng thơ anh đang vào độ sung sức nhất, chín rực nhất, Nguyễn Lương Ngọc thường nói với bạn bè về những khao khát cách tân thơ của mình. Anh là một cá tính thơ mạnh mẽ và có thể xung đột với bất kỳ sự mòn cũ, trì trệ nào đó trong thi ca.  Thời điểm những năm 90 ấy, thơ Nguyễn Lương Ngọc đã “nổ” những bài đầu tiên vào thành trì của những thói quen vần điệu sáo rỗng không- chịu- chuyển -động của nền thơ cũ. Anh không muốn thơ của mình ngân vang trong những quả chuông rỗng của nhạc điệu thơ cũ (vì phải chăng đặc tính của chuông là càng rỗng thì càng ngân?). Anh muốn thơ mình phải “Đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại-nung chảy mình ra mà tìm lõi - xé toang mình ra mà kết cấu”. Theo tôi, Nguyễn Lương Ngọc là một hiện tượng cách tân đặc biệt của thi ca đương đại và có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của thơ Việt Nam cuối thể kỷ XX. Bài thơ Gọi hạc của anh với cái nhìn đau đớn về bản thể của sự sáng tạo, đã cho ta thấy đối với anh- thơ là một tín ngưỡng, nhà thơ phải đi tới tận cùng chân lý dẫu có phải đối mặt với cái chết, hoặc phải sáng tạo cái mới hoặc không bao giờ tồn tại: “Con cắt trắng/ xếp cánh/ khi gặp con khướu vàng/ Con khướu vàng/ khép mỏ/ khi gặp con hạc đỏ/ Con hạc đỏ nức nở / nhìn/ con hạc trắng/ Hạc trắng/ Hạc trắng/ Những con đã sinh ra thì đã chết/ Những con chưa chết thì chưa sinh ra”.

     

      Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ trước, thơ của Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, và một số nhà thơ trẻ khác đã vang lên trong tâm tưởng những người viết trẻ như một thứ “ánh sáng mới”. Họ đã thực sự bị cuốn vào một cơn bão thi ca với những vận hội mới của nghệ thuật.Tôi còn nhớ, một lần tại toà soạn Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Nguyễn Lương Ngọc với ánh mắt thẳng thắn, đầy tự tin đã nói với một số nhà thơ thuộc thế hệ cũ một câu nói rất hồn nhiên, đại ý rằng: “ Đã đến lúc chúng em phải quên các bác, phải quên ngay cái thứ thơ cũ rích của các bác để làm một cuộc thơ mới, các bác hãy tránh ra cho chúng em chơi cuộc chơi của thế hệ mình…”. Một nhà thơ già vui vẻ cười nói: “Chúng tớ có cản đường các cậu đâu…”. Mà cản làm sao được khi Nguyễn Lương Ngọc trong bài thơ Hội hoạ lập thể của mình đã viết thế này: “Khi mắt đã no nê/ Những quy tắc lên men/Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật/ Có gì không ổn/ Có gì như bệnh tật/ Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ/ Anh không còn muốn nhìn những gì mình đã vẽ/ Chính nước mắt, hay máu tứa ra từ cái nhìn bền bỉ/ Đã cho anh chiếc lăng kính này đây/ Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu/ Em tặng anh cát/ Đây nó là thuỷ tinh/ Em tặng anh dòng sông/ Đây nó là ánh sáng/ Em tặng anh chính anh mà em vừa tìm được/ Đấy là em”.

     

       Trong một tuyên- ngôn -thơ như bài nói trên, ta thấy Nguyễn Lương Ngọc đã thực sự quyết liệt đối mặt với cái kiểu nghệ thuật giả tạo, nghệ thuật nửa vời cứ ngày ngày “vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ” khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật. Và ngay bản thân nhà thơ trong nghệ thuật còn quyết liệt tới mức: phải đập mình ra mà ghép lại, phải nung chảy mình ra mà tìm lõi, phải xé toang mình ra mà kết cấu… thì làm sao anh ta có thể chung sống được với một thứ nghệ thuật ngôn từ cũ mòn, sáo rỗng đã bao năm trói buộc các ý tưởng sáng tạo mới. Có thể nói bài thơ Hội hoạ lập thể củaNguyễn Lương Ngọc đã mang trong mình tinh thần tuyên chiến với cái cũ trong nghệ thuật để khẳng định việc xây dựng một nền nghệ thuật mới.

     

       Trong những cuộc cách mạng thi ca, khởi đầu bao giờ cũng cần những “ngọn cờ mới”, Nguyễn Lương Ngọc là một ngọn cờ như thế với tất cả sự quyết đoán và quyết liệt hết mình vì thơ ca. Nhưng số phận của những người mở đường, những người tiên phong trong nghệ thuật không mấy khi được thuận buồm xuôi gió. Và Nguyễn Lương Ngọc đã tiên cảm thấy điều này trong bài thơ “Với một nhà thơ vừa tắt” nói về nhà thơ Trần Vũ Mai: “Bởi anh không chịu được sự ồn ào/ ồn ào đã giết anh/ Bởi anh không chịu được dịch “cô đơn”/ cô đơn đã giết anh/ Sứ mệnh, sứ mệnh khó khăn/ Phải cùng nhau giấu đi sự thật/ Để cùng sống cho ra vẻ sống/ “Mệt nhọc cũng giấu, khổ cũng giấu”/ Anh không đủ can đảm mang đến người yêu nỗi buồn/ Nỗi buồn, anh còn yêu chị/ Anh không đủ dũng khí ứa ra một giọt nước mắt/ Nghìn giọt chất mãi nhão cả ngực / Anh không đủ dũng khí bắt mọi người phải khóc vì họ/ Hôm nay bao người khóc/ Chúng ta luôn phải đi đường vòng/ Với “đôi chân kẻ sốt rét rừng”/ Thôi, đừng cao giọng/ Đừng nói gì về sứ mệnh/ Sống, lặng im/ “Lặng im như bài hát”/ Chiều đang lụi, anh đến và bảo: Đêm thật đáng yêu/ Đêm sắp tàn, anh đến và bảo:Tôi sẽ dẫn đêm đi nghỉ”.

     

       Tuy Nguyễn Lương Ngọc đã ở rất xa chúng ta, nhưng hơn 200 trang thơ anh để lại vẫn như một dòng chảy ấm nóng trong đời sống thi ca những tháng năm này. Dừng lại mãi mãi ở tuổi 43 nhưng với anh, sự nghiệp thi ca đã hoàn tất, và anh vẫn còn như một vệt sao băng chói sáng bầu trời thi ca Việt tới hôm nay.

     

     

    Nguồn: Văn nghệ Trẻ


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 15:44 09/04/2012
    Số lượt xem: 346
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi