Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    1 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn Văn học > Chân dung văn học >

    Nguyễn Tuân rất độc đáo

    QĐND - Nói tới văn học đương đại Việt Nam, nói về lịch sử 55 năm của Hội Nhà văn Việt Nam (1957–2012) không thể không nhắc tới ông. Ông không phải là người nắm giữ chức vụ cao nhất trong Hội Nhà văn Việt Nam như 5 nhà văn: Nguyễn Công Hoan (Chủ tịch Hội đầu tiên), Nguyễn Đình Thi (Tổng Thư ký hội lâu nhất, từ khóa 1 đến khóa 3, tổng cộng 30 năm), Vũ Tú Nam (khóa 4), Nguyễn Khoa Điềm (khóa 5) và Hữu Thỉnh (Tổng thư ký khóa 6, 7 và là đương kim Chủ tịch). Nhưng ông đã từng là Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam - tiền thân của Hội Nhà văn nên phải nhắc đến? Cũng không hẳn thế. Cái lý do căn bản phải nhắc tới ông thật giản dị vì ông là nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả của những tác phẩm bất hủ như Vang bóng một thời (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Chùa Đàn (1946), Tình chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Sông Tuyến ( 1967 ), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)… gắn liền với những phong cách nghệ thuật, tính cách như: Tài hoa mà uyên bác, mãnh liệt mà thiết tha, cổ kính mà trẻ trung, “ngông” mà tinh tế, ngang tàng mà trách nhiệm… cùng rất nhiều những danh vinh như: “Vua tùy bút”, “bậc thầy ngôn ngữ”, “người làm sống lại những món ăn xưa”, người theo “chủ nghĩa xê dịch”, nhà văn của “cái tôi’, ngòi bút luôn tôn thờ “cái đẹp”… vân vân và vân vân. Tóm lại là một Nguyễn Tuân gắn liền với những… độc đáo.
     

    Ký họa chân dung nhà văn Nguyễn Tuân của các họa sĩ.

    Độc đáo khi ... “ngửi thấy mùi Hà Nội”

    Trong đội ngũ các nhà văn đi kháng chiến hưởng ứng phong trào “văn nghệ sĩ đầu quân” những năm chống Pháp (1946-1954) có nhiều nhà văn tiền chiến, trong đó có nhà văn lão thành Nguyễn Tuân. Đi kháng chiến, theo bước chân bộ đội vào Tây Bắc, lên Việt Bắc, Nguyễn đã viết được nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó phải kể đến Tình chiến dịch. Ông là người rất được bộ đội yêu và cũng thích đi cùng bộ đội kể cả dự những chiến dịch. Trong chiến dịch biên giới đi cùng một đơn vị thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong (308) ông rất phấn khởi vì đây là trận đánh có ý nghĩa lớn: Khai thông biên giới, chuẩn vị cho tổng phản công. Một đêm, khi cùng các chiến sĩ bò qua đường số 4 đánh sang Thất Khê, Nà Hang, ông đã tỏ ra... quyến luyến cái đường nhựa. Thấy vậy, người chỉ huy đã phải giục ông vượt nhanh lên kẻo nguy hiểm. Ông thì thầm nói lại rằng, ông rất xúc động khi thấy đường cái nhựa, rằng đã ra được đường cái nhựa tức là đã sắp đến ngày chiến thắng rồi và rằng thấy được đường nhựa, đường 4, tức là đã… “ngửi thấy mùi Hà Nội”. Quả nhiên, sau chiến thắng biên giới, lực lượng kháng chiến liên tục giành thắng lợi và chưa đầy bốn năm sau nhà văn đã có mặt trong đoàn quân chiến thắng trở lại tiếp quản Thủ đô giải phóng (10-1954).

     “ Mùi Hà Nội” với Nguyễn khi ấy không chỉ là mùi… đường nhựa mà còn là… “mùi phở”. Ông viết trong tùy bút nổi tiếng “Phở” như sau:

     “Trong kháng chiến có những tay phở nổi tiếng ở vùng tự do như: Phở Giơi, phở Đất, phở Cống (tên vẫn một tiếng thôi) nhưng cũng có những bát phở, chưa được đúng cách thức lắm mà ăn vào vẫn cứ thấy cảm động. Ví dụ, phở ở căn cứ địa, làm ngay trong cơ quan. Một vài cơ quan ở quanh Trung ương, chung nhau giết bò để bồi dưỡng theo kế hoạch hàng tháng. Có những đồng chí cấp dưỡng rất yêu thương anh em, nhất định tổ chức phở. Thịt sẵn, xương sẵn, nhưng thiếu nước mắm, thơm, hành mùi, bánh lại là bánh đa khô. Nhưng cứ làm. Những chầu phở ngày Chủ nhật ở bên bờ suối cơ quan, thật là đầu đề phong phú cho báo liếp. Ăn phở trên rừng càng thấy cồn cào nhớ miền xuôi. Ở các đơn vị tĩnh tại, chiến sĩ thỉnh thoảng cũng nấu phở ăn. Vui nhất là ở một trung đoàn gì đó có nhiều chiến sĩ người Hà Nội, trung đoàn ấy về đánh dưới xuôi, đánh cái trận vận động chiến ở Hạ Bằng. Nhân dân đi sát bộ đội, có hàng phở gánh của dân chúng bán ngay tại tuyến lửa, gánh phở cứ quấn lấy hậu quân của đơn vị đang lập công, anh chiến sĩ cầm bát phở đang bốc khói và cạnh anh là những nòng súng cũng chưa đi hết khói…”. Và thêm: “Tôi thấy Tổ quốc chúng ta có núi cao vòi vọi điệp điệp, có sông dài dằng dặc, có biển bờ thăm thẳm, có những con người Việt Nam dũng cảm xây đắp lịch sử quang vinh, có những công trình lao động thần thánh như chiến thắng Điện Biên, nhưng bên cạnh những cái đó, tôi biết rằng Tổ quốc tôi còn có phở nữa. Trong những năm chiến tranh giải phóng, kẻ thù bay trên bát phở, có những bát phở phải húp vội trong đêm tối tăm, quệt ngang ống tay áo mà nhảy xuống lỗ hầm; có những bát phở bị bom, bánh trương lên mà người ăn không còn thấy trở lại một lần nào nữa. Nhớ lại cái hồi tôi về công tác ở vùng sau lưng địch, tôi không thể quên được mấy cái quán phở khuya trên con đê miết lấy vùng căn cứ du kích; những bát phở nóng ăn sau những đêm vượt vành đai trắng và xuyên qua vị trí địch, ăn có một hương vị thật là đặc biệt; sau này nó tổng càn, nó hất hết các quán trên đê, không biết người bán phở đêm đó, có còn sống hay đã chết trong chuyến ấy rồi? Lại còn cái lần đi chiến dịch với Tiểu đoàn Lũng Vài, tôi không quên được những cuộc hành quân với đồng chí cấp dưỡng ban chỉ huy; đồng chí ấy gánh rất nhiều nồi niêu ga-men và thực phẩm cồng kềnh, các chiến sĩ đều đùa gọi là “ông hàng phở của tiểu đoàn”. Trước kháng chiến đồng chí ấy vốn mở hiệu phở; nay hòa bình rồi, đồng chí có còn sống mà mở phở lại?”.

    Nguyễn Tuân (1910-1987) không chỉ là nhà văn nổi tiếng tài hoa, không chỉ “vang bóng một thời”, không chỉ có “sông Đà”, “sông Tuyến”, không chỉ có “Hà Nội đánh Mỹ”, cùng những “phở”, những “cốm giò” và “cây”… ở đất kinh kỳ, ở chiến khu thời 9 năm, ở tuyến lửa thời đánh Mỹ mà còn được bạn đọc biết đến như một bậc thầy về câu chữ, một người Hà Nội sành điệu trong ẩm thực, trong thú chơi hoa cảnh… rồi có thời được cho là “phức tạp” và cả “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) nữa. Tưởng thế là… đã “đã một đời văn”!

    Chưa đủ, chưa đã! Nguyễn Tuân không chỉ “độc đáo” trong cách đọc, đi và viết, trong cách quan sát cảm nhận mà còn “độc đáo” trong cả cách… tạo hình. Tạo hình trong vai diễn trên màn bạc (từng tham gia đóng phim Cánh đồng ma, Làng Vũ Đại ngày ấy…), trong tranh ảnh.

     Tôi có trong tay khoảng 100 bức ảnh, bức minh họa về Nguyễn Tuân được cắt từ các báo, được bạn bè thương quý cho. Các bức ảnh, bức họa vẽ cụ Nguyễn không cái nào giống cái nào, nhưng chỉ nhìn thoáng qua ai ai cũng nhận ra cụ.

    Nhà văn Nguyễn Tuân. Ảnh tư liệu

     Nguyễn còn rất đẹp giai (khi trẻ), đẹp lão (lúc già) lại rất “ăn hình”, “ăn ảnh” khiến giới họa sĩ, nhiếp ảnh hễ gặp là mê liền, là không thể không động chân động tay kịp thời chớp lấy dù là khoảnh khắc.

     Riêng về các bức ký họa, mấy chục kiểu, tôi thấy kiểu nào cũng đẹp mặc dù chẳng kiểu nào giống kiểu nào, do nhiều họa sĩ vẽ, vẽ trong nhiều thời gian, nhiều khoảnh khắc.

     Bức ông Tạ Tỵ vẽ cụ lúc trẻ nên gầy và có mái tóc mang dấu ấn nghệ sĩ trẻ của một thời bồng bềnh sóng lượn. Bức do một họa sĩ ký tên là Văn (Văn Cao?) vẽ năm 1946 cạnh bức vẽ năm 1947 trên giấy học trò kẻ ôli, Nguyễn Tuân do hoàn cảnh kháng chiến khó khăn có vẻ hom hem nhưng đã xuất hiện cái tẩu (dùng với chiếc batoong làm nên một phong cách Nguyễn Tuân, một dấu hiệu nhận ra Nguyễn Tuân)… Có lẽ đây là những ký họa đầu tiên về cụ.

     Rồi tiếp theo là những bức vẽ Nguyễn Tuân rất thoáng, rất tự tin của họa sĩ Thành Chương trên Báo Văn nghệ. Kế là bức họa sĩ Sĩ Ngọc vẽ năm 1987 với câu trêu ghẹo: “Tết Mèo ông đến chơi tôi, tặng ông một cành mai ông cười”!… Và sau nữa là những nét vẽ đượm chất tài hoa nhưng cũng gửi gắm nhiều thành kính của Phạm Minh Hải, Quách Đại Hải…

     Có những bức vẽ tác giả không ký tên, lại có những bức đến tay tôi không rõ xuất xứ. Là thế nên nhân đây cũng được tỏ lòng cảm ơn và xin các họa sĩ ghi cho hai chữ “đại xá”. Tôi tin là giới họa sĩ sẽ chấp nhận bởi vì: Nguyễn đã thuộc về công chúng và bởi vì chúng ta - tôi và các anh đều rất yêu cụ.

    Ngô Vĩnh Bình


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 13:07 28/07/2012
    Số lượt xem: 655
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi