Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    1 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn thơ > Thơ và những lời bình >

    Nhà thơ Quang Huy :Từ "Hư vô"đến "Nỗi niềm Thị Nở"

    Quang Huy - Một đời giàu trải nghiệm

    Nhà thơ Quang Huy.

    Quang Huy quê gốc làng Thuận Vi, xã Bách Thuận, tỉnh Thái Bình nhưng sinh ra tại làng Bình Phiên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông nội Quang Huy làm tới chức Thượng thư thời vua Tự Đức nhưng mẹ anh lại là một chiến sĩ cộng sản - Bí thư Huyện ủy đầu tiên của huyện Cẩm Giàng từ trước Cách mạng Tháng Tám. Phải chăng nền nếp gia phong ít nhiều đã ảnh hưởng tới tính cách Quang Huy?

    Sau khi học xong tại Khu Học xá Trung ương, năm 1958 Quang Huy vào công tác tại Nghệ An và gắn bó với mảnh đất miền Trung này suốt hai mươi năm trời. Thời gian đầu Quang Huy dạy học tại huyện Yên Thành. Như duyên trời, tại đây anh làm quen được với một cô học sinh nổi tiếng xinh đẹp, hiền dịu, sau trở thành đồng nghiệp và hơn nữa, thành người bạn đời gắn bó cho mãi tới ngày hôm nay.

    Quang Huy làm thơ từ khi còn đi học. Năm 1961, anh được giải thưởng thơ của báo Văn Nghệ với bài "Trưa vàng suối biếc". Quãng thời gian sống tại Nghệ An, anh nổi lên như một nhà thơ có những bài thơ về miền quê mới rất ấn tượng nên đến năm 1964, anh được nhà thơ Trần Hữu Thung mời cùng tham gia chuẩn bị thành lập Hội Văn nghệ Nghệ An. Quang Huy gắn bó với mảnh đất Nghệ An, lấy vợ Nghệ An, kết thân với những nhà thơ, nhà văn Nghệ An, đi lại hầu hết các huyện, xã trong tỉnh, hòa hợp rất nhanh nơi miền quê mới. Quang Huy là người Bắc nhưng lại thích nói trạng và hay chơi chữ, những đặc trưng của người xứ Nghệ. Anh thông thạo cảnh quan, nếp sống, con người và văn hóa Nghệ An, bởi vậy nên không ít người vẫn nghĩ anh là người Nghệ An.

    Cuộc đời xem ra có nhiều ưu ái với Quang Huy. Ngoài vợ đẹp, đảm đang, con cái ngoan ngoãn, đường "quan chức" cũng luôn mỉm cười với anh. Chân ướt chân ráo về Hà Nội, Quang Huy đã được cử ngay làm trưởng phòng của Nhà Văn hóa Trung ương. Giữ vị trí này được vài năm thì bên Nhà xuất bản (NXB) Văn học, thời ông Lý Hải Châu làm giám đốc ngỏ ý muốn có anh. Tưởng chỉ làm một biên tập viên văn học bình thường đã đủ vui với Quang Huy nhưng anh lại được đề bạt làm Trưởng phòng Văn học hiện đại. Ban đầu Quang Huy có phần e ngại vì ở đây có những bậc đàn anh mà tên tuổi quá ư nổi tiếng như các nhà văn, nhà thơ: Quang Dũng, Nguyễn Thế Phương, Hà Minh Tuân, Lê Khánh…Tuy nhiên, các nhà thơ, nhà văn kia thường rất ngại dính dáng đến quản lý, lại thấy Quang Huy chững chạc nên đã rất ủng hộ anh. Khi nhà thơ Lữ Huy Nguyên sang giữ chức Giám đốc NXB Văn hóa - Thông tin đã mời Quang Huy cùng sang để tham gia lãnh đạo. Lúc ông Lý Hải Châu nghỉ hưu, Lữ Huy Nguyên trở về làm Giám đốc NXB Văn học thì Quang Huy từ Phó giám đốc lên làm Giám đốc kiêm Tổng biên tập NXB Văn hóa - Thông tin.

    Không chỉ ở các cơ quan hành chính, Quang Huy còn tích cực tham gia công việc ở Hội Nhà văn với 3 năm làm Phó ban Kiểm tra, 5 năm giữ chức Trưởng ban Nhà văn trẻ, rồi 5 năm làm Ủy viên Hội đồng thơ. Công bằng mà nói, Quang Huy không chỉ có tác phong đĩnh đạc, ăn vận luôn chỉnh chu, gương mặt nghiêm nghị rất phù hợp với người lãnh đạo, mà anh còn rất bản lĩnh trong các cương vị mình đảm nhiệm. Có thể nói, thời Quang Huy làm Giám đốc thì NXB Văn hóa - Thông tin thực sự đã có những thay đổi đáng kể. Nhiều bộ sách có giá trị như các bộ Tuyển thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu…, sách danh nhân, những bộ Từ điển văn hóa, những bộ Almanach về các nền văn minh thế giới…nối nhau được xuất bản…v.v. Còn phải nói thêm, mỗi khi sắp vào năm mới thì NXB lại như có hội vì bận rộn phân phối lịch treo tường. Cuộc sống của nhân viên NXB cũng như cá nhân Quang Huy qua đó cũng đã ít nhiều được cải thiện.

    Về tính cách Quang Huy, cũng có người này, người khác cho là anh lạnh lùng, quan cách. Quang Huy và Trúc Cương là chỗ bạn bè thân thiết. Không những cả hai cùng tuổi Bính Tí (1936), đều làm thơ và vào Hội Nhà văn như cùng một đợt nên khi Quang Huy làm việc ở Nhà Văn hóa Trung ương chỗ Bờ Hồ, còn Trúc Cương khi ấy đang làm biên tập viên NXB Văn hóa - Thông tin, mỗi chiều tan làm, chưa về nhà ngay mà Trúc Cương thường lóc cóc xe đạp đến chỗ Quang Huy. Gặp nhau họ cứ tao tao, mày mày. Nhưng khi Quang Huy về làm Giám đốc NXB Văn hóa - Thông tin thì đương nhiên Trúc Cương thành cán bộ dưới quyền. Nghĩ chỗ bạn bè nên khi gặp nhau, Trúc Cương vẫn cứ hồn nhiên tao tao, mày mày, kể cả khi có người lạ. Thấy như thế không ổn nên một lần, sau khi làm việc với nhau xong, Quang Huy mặt nghiêm: "Ông Trúc Cương ạ, ông và tôi là chỗ bạn bè thân, ai cũng biết. Nếu chỉ riêng hai người với nhau thì ông thế nào cũng được, nhưng khi có người lạ tôi lưu ý ông nên chú ý nói năng". Hơi bất ngờ, Trúc Cương ngẩn mặt, lúng túng một lúc rồi đứng lên rời phòng giám đốc.

    Tuy nhiên, trong số bạn bè văn chương cũng có nhiều người nhận xét khác về Quang Huy. Năm 1999, khi ấy Vũ Từ Trang có cuốn thơ "Ngược dốc" đến xin giấy phép của NXB. Thông lệ, nhận giấy phép xuất bản thì tác giả phải thanh toán chi phí hành chính nhưng khi Trang xuống phòng tài vụ nộp thì nhân viên không dám nhận, nói đây là ý kiến giám đốc. Thắc mắc, Trang lên gặp, hỏi thì Giám đốc Quang Huy tưng tửng bảo: "Thông thường thì phải nộp nhưng mày thì tao… tha". Và cũng không phải riêng trường hợp Vũ Từ Trang mà nhiều nhà thơ khác cũng từng nhận được từ Quang Huy cách hành xử như thế.

    Quang Huy viết chậm và ít. Có lẽ vì anh thận trọng khi công bố. Cả cuộc đời làm thơ, đâu anh chỉ có không tới hai trăm bài, thậm chí còn ít hơn thế. Cuối năm 2013, khi ra Tuyển tập thì Quang Huy cũng chỉ chọn cho mình có đúng 108 bài. Điều đáng nói, Quang Huy biết gây ấn tượng, níu giữ người đọc. Anh thành công trong nhiều thể loại: Thơ tự do, thơ năm chữ, bẩy chữ…nhưng hơn cả có lẽ là những bài ở thể lục bát. Trong thể loại khá khó khăn này, Quang Huy đã chứng tỏ là một người viết có nghề, có tài mà tiêu biểu nhất là "Nỗi niềm Thị Nở ", được nhận xét là hay và đẹp đến độ hoàn mỹ, được NXB Giáo dục tuyển chọn trong "100 bài thơ hay nhất thế kỉ 20". Có lẽ đây là một trong những bài thơ thể hiện rõ khiếu hài hước, sự tài hoa và thông minh vốn có trong con người Quang Huy

    Quang Huy không có nhiều thơ nói về tình cảm riêng tư và về tình yêu trai gái. Những bài về tình yêu hiếm hoi như thường chỉ viết dành tặng riêng cho Mai Sương, vợ anh, như các bài "Lạnh thu", "Bất ngờ em", "Gửi em", "Một lời ước hẹn", "Khoảng trời em"…v.v… Đó là những bài thơ hay, đầy xúc cảm, cho thấy mối tình đã đi suốt cuộc đời nhà thơ tận đến hôm nay đã để lại trong anh quá nhiều sâu lắng, ám ảnh.

    Năm 2003 Quang Huy bị tai biến mạch máu não. Căn bệnh hiểm này làm anh đi lại, nói năng khó khăn. May mà sau đó đầu óc tỉnh táo trở lại để vẫn có thơ trên sách báo. Thậm chí sau đó, Quang Huy còn viết được nhiều hơn. Nhưng gần đây người nhà thấy anh ho nhiều, chữa trị các bệnh viện trong nước không đỡ nên gia đình quyết định đưa anh sang Sinhgapo. Cũng tốn kém và cách rách lắm nhưng con cái nay đều làm ăn khá giả muốn được báo hiếu bố.

    Cứ hai tuần một lần vợ con đưa anh sang bên đó chữa trị khoảng một tuần rồi lại về. Mỗi lần như thế ít nhất cũng phải có hai người nhà đi cùng. Những ngày này, sau khi từ nước ngoài về, Quang Huy được vợ đưa lên gác thay vì vẫn ngồi trên bộ bàn ghế gỗ thời thượng dưới nhà vì chị muốn tránh cho anh mọi tiếp xúc. Mọi việc chị Mai Sương lo toan, quyết đoán. Cứng cáp vậy nhưng đôi khi tôi vẫn thấy trong đôi mắt còn đẹp của người bạn đời của Quang Huy ngân ngấn nước mắt, lo lắng mỗi khi nói đến sức khỏe của chồng.

    Lần đến thăm anh gần đây cùng Hoàng Cát, khi ấy vợ anh đi chợ vắng nên chúng tôi lên thẳng gác vào buồng anh. Anh cho biết, đã sáu lần đi lại sang nước ngoài chữa trị rồi, có lẽ sau lần này thì thôi. Bây giờ nom anh béo ra nhưng có vẻ chậm chạp hơn. Và anh vẫn rất lạc quan, vẫn say sưa nói chuyện văn chương, hóm hỉnh khi nói chuyện bạn bè. Đầu óc Quang Huy rất tỉnh táo nhắc chị giúp việc mang nước lên, vẫn tự tay nắn nót ghi những lời đề tặng nhờ gửi tới những bạn mà anh chưa gửi cuốn tuyển tập của mình.

    Hy vọng anh sẽ sớm vượt qua tật bệnh, khỏe mạnh để lại thấy anh bên bàn cờ tướng cùng Vương Trọng, Hoàng Cát…Và bạn bè cùng bạn đọc lại tiếp tục thấy thơ anh.

    Trong những bài thơ của Quang Huy tôi tâm đắc nhiều với "Hư vô": "Cái gì cũng có một thời/ Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban/ Cái gì rồi cũng tiêu tan/ Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ/ Cái gì rồi cũng hư vô/ Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi/ Cái gì rồi cũng rụng rơi/ Quả trên Vườn Cấm, hoa nơi Địa Đàng/ Chỉ còn mãi với thời gian/ Tình yêu từ thuở hồng hoang dại khờ…".

    "Hư vô" được Quang Huy viết khi anh sắp bước vào tuổi sáu mươi. Bài thơ như là một chiêm nghiệm cũng là một triết lí sự đời. Tất cả mọi thứ trên đời, tiền bạc, quyền chức, danh vọng, xe hơi, nhà lầu…rồi cũng chỉ là hư vô, rồi cũng sẽ tan biến. Tồn tại mãi với thời gian có chăng chỉ còn tình yêu của loài người vốn có từ thuở hồng hoang dại khờ.

    Biết hư vô, hẳn Quang Huy phải là người đã trải mọi lẽ đời?

      *  Quang Huy là một thi sỹ viết lục bát có tiếng, phải nói thêm là có tài. Ông có một số bài lục bát được nhiều người biết đến...

    Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã nói tới cái khó của thể thơ lục bát. Xuân Diệu thậm chí còn tiết lộ ông rất "sợ" thơ lục bát, rất ít viết lục bát, vì sợ thất bại. Trong quan niệm của ông, đây là loại thơ dễ làm nhưng khó hay, phải làm sao để nó "giản dị, thanh thoát và không tầm thường dung tục".

       Quang Huy cũng có chung nhận định như vậy, mặc dù điều ấy không ngăn trở việc anh năng dùng thể thơ này. Trong thi đàn, anh được xem là người viết lục bát vững tay nghề. Bình thường anh viết ậm ạch nhưng riêng với thể thơ lục bát, anh như được thoát xác, thăng hoa. Đa phần các bài của anh đều có hình ảnh "bắt mắt", âm điệu xuôi tai. Nó có thể chinh phục người đọc ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Tuy nhiên, về lâu về dài, mỗi bài thơ cần như một con sông, nước vẫn êm đềm chảy trôi song phải có phù sa lắng lại. Như với trường hợp các bài "Hư vô", "Nỗi niềm Thị Nở", theo tôi, đây là hai bài vào loại đặc sắc của Quang Huy, cũng là đặc sắc của thi ca đương đại Việt Nam. Nó hoàn toàn đủ để chứng minh sức lay cảm ở thể loại thơ lục bát của anh.

    QUANG HUY VỚI HƯ VÔ
    (Về bài thơ Hư vô của Quang Huy)
     
    Cái gì cũng có một thời
    Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban
     
    Cái gì rồi cũng tiêu tan
    Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ
     
    Cái gì rồi cũng hư vô
    Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi
     
    Cái gì rồi cũng rụng rơi
    quả trên Vườn Cấm, hoa nơi Địa Đàng
     
    Cái còn mãi với thời gian
    Tình yêu từ thuở hồng hoang dại khờ
          *
    Gắng ngồi viết cạn bài thơ
    Bài thơ rồi có hư vô như mình?
     
    LỜI BÌNH CỦA VŨ BINH LỤC
     
    Quang Huy là một thi sỹ viết lục bát có tiếng, phải nói thêm là có tài. Ông có một số bài lục bát được nhiều người biết đến, được chọn vào khá nhiều tuyển thơ, kể cả mới gần đây nhất là cuốn “Nghìn năm thơ Việt” (Việt thi thiên tải), Nxb Hội Nhà Văn-2010. Ví như “Nỗi niềm Thị Nở”; ví như “Hư vô” và một số bài khác.
                Ở “Nỗi niềm Thị Nở”, Thấy một Quang Huy lục bát khá nhuần nhuyễn, khéo chuyển tải và “nâng cấp” được hồn vía nhân vật trữ tình Thị Nở, như một người đàn bà “rất thật đàn bà” với người tình NỔI TIẾNG Chí Phèo. Một khát khao nhân bản, được nhìn và được thể hiện với một cảm quan tươi mới và nhân hậu. Dù vậy, ở “Nỗi niềm Thị Nở”, vẫn còn thấy cái gì đó như là một sự gia công điêu trác của tác giả, nghĩa là chưa thật say, tình thơ và nghĩa chữ còn mơ hồ bẽn lẽn và như thể đang chới với một khoảng cách nào đó. Tóm lại, còn thấy rõ cái khéo lấn át cái tài hoa…
                Bài thơ “Hư vô” ngắn hơn, tổng thể gồm sáu câu thơ lục bát. “Hư vô” chính là một triết lý Phật giáo nhiều người biết, và chiêm nghiệm về nó cũng nhiều. Nó là một phạm trù triết học rất rộng. Cảm nhận về nó cũng tuỳ theo từng người, nông sâu tuỳ thuộc vào sự hiểu biết và mức độ quan tâm. Quang Huy là nhà thơ thể hiện sự quan tâm đến triết thuyết “hư vô” bằng những chiêm nghiệm của riêng mình. Trước hết, đó là sự chiêm nghiệm về sức mạnh của quyền lực: “Cái gì cũng có một thời / Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban”!
                Dòng đầu, thể hiện ý khái quát “Cái gì cũng có một thời”, phủ định sự bất biến, đương nhiên khẳng định sự thường biến của vạn vật. Dòng tiếp theo, cụ thể cái sức mạnh quyền uy của người nắm trọn quyền lực, tối thượng: “Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban”…Một lời vua ban, có kẻ rơi đầu cả ba họ. Một lời vua ban, có thể khiến trăm họ huynh đệ tương tàn, máu chảy thành sông, xương phơi đầy núi. Một quyết định sai lầm của người nắm quyền lực tuyệt đối, sẽ gây hậu họa khôn lường. Đó là thông điệp của tác giả ở dòng thơ này. Nếu tách riêng hai ý của hai dòng sáu và tám ra, thì vậy. Nhưng liên kết cả hai dòng thơ lại, theo lối bắc cầu, vắt dòng, thì hai ý hình như không ăn nhập với nhau. Thử làm một trắc nghiệm xem sao! Ví thử đổi là “Nghìn xưa vẫn có một thời / Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban”. Hoặc “Gương xưa còn rõ sự đời / Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban” chẳng hạn. Đấy là tôi lạm bàn về cấu trúc của cấu trúc, trong một câu thơ lục bát của Quang Huy, theo cảm nhận của kẻ viết bài này!
                Câu lục bát tiếp theo, cũng là phủ định sự vĩnh cửu của vạn vật, đồng thời là cảm thán về nỗi buồn thế sự. Tác giả viết: “Cái gì rồi cũng tiêu tan / Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ”…
                Chắc là tác giả đề cập đến những bài học lịch sử, gần hơn là bài học về sự hưng vong của mọi triều đại cổ kim, nhỏ hơn là của mỗi phận người. Thịnh suy, hưng phế, xưa nay vẫn là một quy luật bất khả kháng, ví như sự chuyển hoá của vật chất vậy. Giàu sang phú quý đấy, nhưng bên trong nó đã chứa mầm huỷ diệt, “rồi cũng tiêu tan” thành khói mây, thành cát bụi. Một triều đại đang cực thịnh, chính nó cũng đang nẩy sinh mầm mống của sự suy tàn… Và còn tất cả, không có loại trừ trong thế giới vật chất nói chung. Nhưng vẫn có điều khiến lòng ta chua xót, ấy chính là những nỗi oan khuất ở cõi người, mãi chôn vùi trong đất. Nhiều lắm, sao kể xiết, đến bao giờ kể cho hết? Thi nhân chỉ có thể thốt lên như một nỗi cảm hoài day dứt: “Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ”, chưa biết đến khi nào được giải oan, được giải thoát!
                Hai câu lục bát tiếp theo: “Cái gì rồi cũng hư vô / Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi / Cái gì rồi cũng rụng rơi / Quả trên Vườn Cấm, hoa nơi Địa Đàng”, cũng là những câu thơ triển khai cái ý vạn vật không tồn tại vĩnh cửu như ở trên, khác chăng là ở phương thức chuyển hoá, ở sự “rụng rơi”, ở sự “rồi cũng hư vô” mà thôi.
                Nhưng câu lục bát thứ năm trong bài, lại là sự khẳng định một “báu vật” phi vật thể của con người, đó chính là “Tình yêu từ thuở hồng hoang dại khờ”, tạo hoá đa tình hào phóng ban tặng.
    Những triết lý vốn có từ xửa xưa, nhà thơ chả có phát hiện gì mới cả. Ngôn ngữ thơ cũng thế, không có dấu hiệu của lao động nhà văn. Tác giả chỉ có công sắp xếp các món “đồ cổ” ấy thành những câu thơ mang dáng vẻ một châm ngôn, một tục ngữ, hay một định đề gì đó… Chỉ có cái ý “Tình yêu từ thuở hồng hoang dại khờ” thì hình như lại là một sự khám phá thú vị. Tất cả mọi thứ trên đời, rồi ra cũng biến thành hư vô, hư ảo, cũng đều là những giá trị ảo. Và “chỉ còn mãi với thời gian”, ấy là cái tình yêu dại khờ của loài người, vốn đã có từ khi sinh ra loài người, từ “thuở hồng hoang” mà thôi. Cái tình yêu dại khờ của loài người, nó vuông tròn, nó méo mó góc cạnh, nó nhiêu khê, nó mũm mĩm thế nào, đố ai mà biết được! Nhìn chả thấy, sờ không thấy, nhưng mà nó vẫn tồn tại, như một sự tồn tại không được ghi chép thành văn tự, thế mới là thú vị và không ngừng thú vị. Quang Huy chỉ thi sỹ ở chữ “dại khờ” này thôi, thế là bài thơ đứng được, hồn thơ có chỗ để cất đầu lên!
    Câu kết, là những lời thi nhân “vận vào”mình, sau khi đã thổn thức chiêm nghiệm sự đời. “Gắng ngồi viết cạn bài thơ / Bài thơ rồi có hư vô như mình?”…
    Kể ra, bài thơ có thể kết thúc gọn ghẽ ở câu thứ năm rồi. Câu thứ sáu chỉ có ý một liên tưởng chợt đến gần hơn, như một hình thức quy nạp và nhấn mạnh ý tưởng chủ đạo. Một câu hỏi buông vào sương khói ảm đạm, nao nao buồn. Một câu thơ vào loại hay, đứng một mình vẫn hay. Chữ “Gắng” và chữ “cạn” tả sự lao động miệt mài gắng gỏi của thi nhân, để đem nó đối lập với cái hư vô, thật tuyệt, mặc dù câu thơ cuối cùng chỉ có giá trị như một phụ đề, không hẳn là tham gia tích cực vào cấu tứ.
                                                    Hà Nội 4-6-2011
                                                                V. B. L

    "Hư vô" là bài thơ đẹp một cách trang nhã, ý tứ thâm trầm sâu sắc, thể hiện ở tác giả sự kinh lịch việc đời và cả kinh nghiệm việc… thơ: "Cái gì cũng có một thời/ Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban/ Cái gì rồi cũng tiêu tan/ Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ/ Cái gì rồi cũng hư vô/ Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi/ Cái gì rồi cũng rụng rơi/ Quả trên vườn Cấm, hoa nơi Địa - đàng/ Chỉ còn mãi với thời gian/ Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ…". Thông điệp của bài thơ khá rõ ràng: Mọi cái thảy rồi cũng qua, chẳng có gì là vĩnh cửu, từ quyền lực tới đức tin của con người. Chỉ tình yêu là đáng tôn thờ, là còn mãi. Vậy mà con người vẫn luôn làm khổ nhau. Máu vẫn không ngừng đổ và nỗi oan khuất thì muôn đời vẫn chất chồng xương trắng… Không chỉ sâu sắc trong ngẫm ngợi sự thế, Quang Huy còn chặt chẽ trong chọn lựa chi tiết, hình ảnh. Chỉ tiếc là hai câu kết chưa thực tương xứng với vấn đề mà tác giả đặt ra. Gì chứ "Gắng ngồi viết cạn bài thơ/ Bài thơ liệu có hư vô như mình?", kết thế là hơi gượng. Một khi nội dung chính của bài thơ nói tới những cái lớn lao như thời thế, kiếp người, việc đem chuyện… làm thơ vào đây đã ít nhiều làm giảm cấp độ cảm xúc của bài thơ.

    Nếu như trong "Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam" in ra năm 1994 ở NXB Văn hóa - Thông tin, Quang Huy đã chọn bài thơ đại diện cho mình là bài "Hư vô" thì ở các tuyển thơ khác sau này, như "Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ XX" (NXB Thanh niên, 2001), anh lại thay bằng bài "Nỗi niềm Thị Nở". Giống như "Hư vô", bài này cũng được anh sáng tác trong năm 1993. Theo tôi, đây mới thực là bài thơ đạt đến độ hoàn mỹ của Quang Huy.

    Nhiều bạn đọc đã biết, Chí Phèo và Thị Nở là hai nhân vật chính trong truyện "Chí Phèo" của Nam Cao. Đây là hai nhân vật nổi đình nổi đám và có sức điển hình hóa thuộc loại bậc nhất trong văn chương Việt Nam. Sau Nam Cao, đã có một số tác giả tiếp tục cho hai nhân vật này dung dăng dung dẻ trên trang sách của mình. Về văn xuôi, tôi nhớ có tiểu thuyết "Chí Phèo mất tích" của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu và tiểu thuyết "Hậu Chí Phèo" của nhà văn Phạm Thành. Ở mảng thơ, trước Quang Huy, Vương Trọng và một số nhà thơ khác cũng chọn đưa Chí Phèo, Thị Nở vào tác phẩm của mình. Song đa phần các tác giả này dùng thể thơ ngũ ngôn, là thể thơ gần với lời nói thường ngày để dựng chân dung nhân vật sao cho gần với những gì mà bạn đọc cảm nhận được từ trang sách của Nam Cao. Ở đây, Quang Huy đã liều sử dụng tới thể thơ… lục bát, một việc mà nếu không khéo sẽ gây… phản cảm với bạn đọc, tương tự trường hợp ta cho Thị Nở, Chí Phèo hát… quan họ vậy.

    Trước đây, hễ nói tới Thị Nở là người ta gần như chỉ tập trung nhấn mạnh tới nét xấu ngoại hình, tới bộ mặt ma chê quỷ hờn của thị. Quang Huy không đề cập tới khía cạnh này, nói đúng hơn là anh… lờ đi. Thay vào đó, anh khai thác cái tâm tính "dở hơi" - mà thật ra chưa hẳn đã dở hơi - của thị. Và chính cái "dở hơi" mà đáng thương, đáng quý ấy của Thị Nở sẽ chi phối toàn bộ cái tứ của bài thơ.

    Để tiện cho bạn đọc theo dõi, xin dẫn ra đây nguyên văn bài thơ nói trên của Quang Huy:

    Người ta cứ bảo dở hơi
    Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
    Dở hơi, nào dở hơi gì
    Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình 

    Làng này khối kẻ sợ anh
    Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
    Sợ anh chửi đổng suốt ngày
    Chỉ mình em biết anh say rất hiền 

    Anh không nhà cửa, bạc tiền
    Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
    Cái tên thơ mộng Chí Phèo
    Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao 

    Quần anh ống thấp ống cao
    Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
    Khen cho con Tạo khéo tay
    Nồi này thì úp vung này chứ sao! 

    Đêm nay trời ở rất cao
    Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa
    Người ta… mặc kệ người ta
    Chỉ em rất thật đàn bà với anh 

    Thôi rồi, đắt lắm tiết trinh
    Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.

    Bài thơ mở đầu bằng hai câu có phần bông đùa. Nó có thể là lời Thị Nở mà cũng có thể là lời tác giả "bênh vực" cho thị. Song đến câu thơ tiếp theo thì đích thị là câu của Thị Nở. Có cảm tưởng như thị đang xốc váy xáp vô những người có cách nhìn nhận khinh thường thị: "Dở hơi, nào dở hơi gì". Kể ra, nếu cứ để thị tiếp tục cái mạch đành hanh, "áp đảo dư luận" kiểu này thì rồi bài thơ cũng không biết sẽ rẽ sang ngả nào. May mà tác giả đã kịp chen vào can thiệp bằng một câu thơ gắn nụ cười hóm hỉnh: "Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình". Chữ "cũng tình" mang hơi hướng ngôn ngữ… vỉa hè đưa vào đây rất đắc địa. Nó thể hiện một cái nhìn "âu yếm", hơi chút… lẳng lơ với Thị Nở. Âu cũng là một cách xoa dịu thị.

    Khổ thơ tiếp theo, tác giả làm lời Thị Nở nói về Chí Phèo. Thật ra, trong truyện của Nam Cao, Chí Phèo chưa bao giờ một tay cầm be (rượu), một tay cầm mảnh sành cả. Hắn chỉ ngất ngưởng với chai rượu và khi cần thì đập chai, lấy mảnh vỡ rạch mặt. Nhưng thôi, đấy là lời Thị Nở, hẳn "anh Chí" cũng chẳng chấp. Một người có cái nhìn về hắn tốt đến thế cơ mà: "Chỉ mình em biết anh say rất hiền" (xin mở ngoặc: Đây không phải Quang Huy "bịa" thêm đâu. Nam Cao chẳng có lúc đã để cho Thị Nở nghĩ về Chí Phèo: "Sao có lúc nó hiền như đất?").

    Đến khổ thơ thứ ba, vẫn là lời Thị Nở (về Chí Phèo), song cách nói hốt nhiên trở nên nghiêm trang lạ: "Anh không nhà cửa, bạc tiền/ Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo". Thú thật, đọc đến đây tôi hơi… lo. Làm sao lại để Thị Nở phát ngôn như thể các nhà làm sách giáo khoa thế? Không chừng sự thuyết giáo này lại phá hỏng bài thơ vốn dĩ có giọng điệu hài hước của Quang Huy. Vả chăng, có một thời, các nhà phê bình quá nặng về vấn đề "tính giai cấp" nên đã có những nhận định đi hơi xa so với những gì Nam Cao thể hiện. Kiểu như: "Xưa kia, Chí Phèo đã từng ước mơ một cuộc sống hạnh phúc, giản dị trong lao động. Tuy còn trẻ trung, anh cũng phân biệt được tình yêu chân chính và thú dâm dục xấu xa… Bản chất trong trắng, lương thiện của người dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân ra sức bóp chết" (như nhận xét của một vị giáo sư khả kính). Tôi lo Quang Huy cũng đi theo hướng ấy, nhất là khi anh lại gá những lời nghiêm túc ấy vào miệng một người như… Thị Nở. Rất may, câu thơ tiếp theo đã hóa giải tất cả, bởi nó lại trở lại giọng bông đùa ban đầu: "Cái tên thơ mộng Chí Phèo/ Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao".

    Nhưng đùa là đùa vậy thôi, hình ảnh Chí Phèo, dẫu có xốc xếch, xộc xệch cũng vẫn đáng yêu, nhất là trong con mắt Thị Nở: "Quần anh ống thấp ống cao/ Làm em hồn vía nao nao đêm ngày". Đến đây, tác giả buông một câu thật đắc địa (nó gợi lại cái tên truyện "Đôi lứa xứng đôi" mà nhà văn Lê Văn Trương từng đặt cho tác phẩm của Nam Cao khi truyện "Chí Phèo" lần đầu được in): "Khen cho con Tạo khéo tay/ Nồi này thì úp vung này chứ sao".

    Từ đoạn tả cảnh vườn chuối đêm trăng trong truyện ngắn của Nam Cao, Quang Huy đã tạo nên một không gian rất thần diệu, vừa gợi không khí lãng mạn vừa nói lên cái ngất ngây của cặp "tình nhân" lần đầu đến với nhau: "Đêm nay trời ở rất cao/ Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa", để rồi qua đó, anh buông hai câu  tưởng không thể đáng yêu và hợp ngữ cảnh hơn: "Người ta… mặc kệ người ta/ Chỉ em rất thật đàn bà với anh".

    Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đặng Anh Đào - trong bài viết "Khả năng tái sinh của Chí Phèo" đã cho rằng, truyện "Chí Phèo" của Nam Cao là một tác phẩm "tắm trong chất thơ". Và vì những tác phẩm viết lại Chí Phèo ngày nay đã đánh mất cái "chất thơ" ấy, nên "những Chí Phèo ngày nay sẽ tuyệt tự" (nghĩa là nó xuất hiện đấy mà không phải… Chí Phèo nữa). Tôi cho rằng nhận định này tuy có lý, song chí ít nó cũng không đúng với một trường hợp. Bởi trong bài thơ của mình, Quang Huy đã không hề xem nhẹ cái "chất thơ" ấy.

    ( Phạm Khải 28/2/2011)

    * HUỲNH XUÂN SƠN VỚI CẢM NHẬN BÀI THƠ
    “NỖI NIỀM THỊ NỞ” CỦA NHÀ THƠ QUANG HUY

    Ngày mà tôi bước vào tuổi cập kê cũng là lúc trái tim biết rung lên những nhịp đập khác thường khi đối diện với người khác giới. Thời gian ấy tôi không được tiếp xúc với nền văn học lãng mạn. Mãi tới khi 19 tuổi, tôi lần đầu mới được đọc những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhưng cũng chỉ là những bản chép tay chuyền nhau hiếm hoi.
        Không biết bạn bè tôi thì sao? Riêng tôi đã chết mê chết mệt, anh Chàng Dũng- một người đàn ông sống có lý tưởng, có trách nhiệm với tình yêu cao cả: Tình yêu tổ quốc, tình yêu gia đình, bên cạnh mối tình sóng gió với cô gái tên Loan trong tác phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh.
        Giờ đây lý giải cho cái suy nghĩ lãng mạn của tôi ngày ấy. Không gì khác hơn là do đang tuổi mộng mơ, mà suốt ngày cặm cụi học: Chí Phèo, Tắt Đèn…. Nhưng từ sâu thẳm trong tôi lúc đó còn có thêm những trăn trở về vài cuộc tình trong văn học sử mà những lúc học ở trường, ít khi thầy cô giảng về tình yêu của những nhân vật ấy.
        Nổi bật trong số đó là cuộc tình của Thị Nở và Chí Phèo. Trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam cao.
        Chí Phèo xuất hiện trong dòng văn học hiện thực phê phán năm 1941. Trong bối cảnh xã hội lúc ấy và cho đến mãi sau này. Mỗi khi có dịp nhắc đến nhân vật Chí Phèo thì từ già tới trẻ đều nói: Chí Phèo là tên nát rượu, chuyên rạch mặt ăn vạ, tứ cố vô thân. Thị Nở may mắn hơn Chí Phèo còn có bà Cô. Nhưng nói đến Thị Nở là ai cũng nghĩ ngay đến một người phụ nữ “ma chê quỷ hờn” vì xấu. Hai con người đại diện cho một tầng lớp những người cùng khổ thời bấy giờ. Họ đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm.
        Tôi đã nghĩ họ cũng có một tình yêu trong cuộc đời khốn cùng của họ. Niềm tin ấy được củng cố sau khi tôi được đọc bài thơ của nhà thơ Quang Huy viết về nỗi niềm của Thị Nở. Đọc bài thơ ấy tôi tìm thấy sự đồng cảm trong tứ thơ và tôi đã đi đến ý nghĩ muốn đồng hành với nhà thơ Quang Huy với cảm nhận của riêng tôi trong bài thơ:
              Nỗi niềm Thị Nở
              Người ta cứ bảo dở hơi
              Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
              Dở hơi là dở hơi gì
              Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
     
              Làng này khối kẻ sợ anh
              Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
              Sợ anh chửi đổng suốt ngày
              Chỉ mình em biết anh say rất hiền
     
              Anh không nhà cửa bạc tiền
              Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
              Cái tên thơ mộng Chí Phèo
              Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
     
              Quần anh ống thấp ống cao
              Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
              Khen cho con tạo khéo tay
              Nồi này thì úp vung này chứ sao!
     
              Đêm nay trời ở rất cao

              Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
              Người ta... mặc kệ người ta
              Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
     
              Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
              Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
                                                (1992, Quang Huy)
        Nhà thơ Quang Huy sử dụng nguyên mẫu hai thân phận đại diện cho tầng lớp bần nông khốn cùng  của làng Vũ Đại đó là Chí phèo và Thị Nở của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo. Nhưng đưa vào thơ ca ông lại nhìn với góc nhìn từ trái tim người phụ nữ đời thường như bao con người khác. Chứ không phải  chỉ đơn thuần là một Thị Nở mà dung nhan khiến “ma chê quỷ hờn”.
        Mở đầu bài thơ ông viết:
              Người ta cứ bảo dở hơi
              Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
              Dở hơi là dở hơi gì
              Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
        Ngôn ngữ ông sử dụng rất bình dị như chính những điều mà ý thơ muốn chuyển tải đến bạn đọc. Từ khi Thị Nở xuất hiện trong văn học sử, bất cứ ai cũng nhìn thị ở khía cạnh người đàn bà xấu không có bút mực nào tả nổi. Nhà thơ không hề nhắc tới khía cạnh này, có lẽ ông chỉ muốn nói đến nội tâm của Thị. Người đời gọi Thị, bảo Thị là đồ “dở hơi”, Thị đâu có chấp. Bởi dẫu Thị thuộc hạng người “bần cùng” cũng vẫn hiểu rằng trong đời sống “lắm lời thị phi” mà đã là thị phi thì: “chấp chi”. Khi đã không chấp những lời thị phi thì đương nhiên Thị vui sống.Mặc chung quanh nghĩ gì? nói gì?
        Nhưng sự tài tình của nhà thơ ở chỗ: Khi viết lời trả treo của chính Thị Nở kìa: “Dở hơi là dở hơi gì. Váy em sắn lệch nhiều khi cũng tình”. Thị Nở nhận mình trong bộ dạng váy sống “sắn lệch”, nhan sắc thì như người ta nói “ma chê quỷ hờn” nhưng vẫn thấy “Cũng tình”. Có lẽ Thị chỉ nhận ra nó từ đêm trăng trong vườn chuối Thị đang “nằm ngủ há hốc mồm ra”, nhưng Lại gặp được anh Chí Phèo….
        Nhà thơ Quang Huy đã khắc họa ra một Nỗi Niềm Thị Nở mà không cần phải nói một câu nào về nhan sắc của Thị. Thị đã có “tình” bởi trong trái tim Thị giờ đây đã có bóng dáng một người. Mà người ấy theo Thị miêu tả thì:
              Làng này khối kẻ sợ anh
              Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
              Sợ anh chửi đổng suốt ngày
              Chỉ mình em biết anh say rất hiền
        Vâng, cả làng Vũ Đại ngày ấy, và cả những ai quan tâm tới Nam Cao với Chí Phèo đều biết, hắn bị người sinh ra hắn bỏ rơi ở cái lò gạch hoang. Được anh bắt lươn nhặt về cho bà mù, bà mù bán hắn cho cha hắn, rồi cha hắn chết. Số phận đưa đẩy hắn tới bóp chân tay cho vợ Bá Kiến… Rồi biến hắn thành tên tù, rồi tên nát rượu. Hình ảnh hắn mỗi khi xuất hiện là tay cầm chai rượu, khi cần... hắn đập chai lấy mảnh rạch mặt ăn vạ….
        Ở đây nhà thơ cho Chí Phèo oai phong hơn một chút so với khuôn mẫu. Chí Phèo có “Rượu be” và trên tay luôn có “mảnh sành” … Chí Phèo luôn luôn chửi đổng…. chửi bất kỳ ai! Chí Phèo chửi cả làng… “cả làng ai cũng sợ anh” phải chăng cũng xuất phát từ cái sự say xỉn “chửi đổng” và “mảnh sành” trên tay này chăng”..
        Cả làng sợ anh. Chỉ mình Thị là ngoại lệ. Với Thị Nở, Thị đã cảm nhận được bản chất lương thiện trong con người của Chí Phèo nên Thị mới thổ lộ rằng: “Chỉ mình em biết anh say rất hiền.”
        Thị Nở không chỉ thấy Chí Phèo rất hiền, mà với Thị thì Chí Phèo nghèo thật, nhưng Chí phèo của Thị
    thật cao cả, thật khí phách bởi:
              Anh không nhà cửa bạc tiền
              Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
        Có lẽ vì nhận ra bản chất tốt đẹp của người mà Thị yêu. Nên bây giờ Thị mới bắt đầu trút Nỗi Niềm từ trong gan ruột của Thị ra  được tác giả đặt vào khổ thơ tiếp:
              Cái tên thơ mộng Chí Phèo
              Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
              Quần anh ống thấp ống cao
              Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
        Ai cũng sợ Chí Phèo vậy mà Thị Nở chỉ nghĩ đến cái tên ấy thôi mà đã “đứt ruột mấy chiều bờ ao”. Phải chăng lúc này Chí Phèo đang đi “rạch mặt ăn vạ” ở đâu đó trong làng Vũ Đại. Để cho Thị Nở cô đơn một mình. Nên Thị thơ thẩn bên vườn chuối, bờ ao, là nơi mà Thị hay chốn bà cô ra ngủ và gặp được Chí Phèo từ nhà Tân lãng đi ra cái đêm trăng ấy.
        Càng “đứt ruột” thì Thị lại càng nghĩ tới Chí Phèo, bây giờ thì hình ảnh người Thị yêu thương nhớ nhung đã hiển hiện trong trái tim Thị. Dẫu là hình ảnh “quần anh ống thấp ống cao” thì cũng quá đủ để “hồn vía” của Thị “nao nao đêm ngày”. Đúng là khi yêu trái tim luôn có lý lẽ riêng của nó thật. Thị Nở yêu cũng đâu có ngoại lệ.
        Và rồi tác giả cũng đã lên tiếng với đôi “trai tài gái sắc” của làng Vũ Đại năm ấy:
              Khen cho con tạo khéo tay
              Nồi này thì úp vung này chứ sao!
        Với hai nhân vật chính “Xứng đôi vừa lứa” là Thị Nở và Chí Phèo thì có lẽ đây là những giây phút đẹp nhất trong đời của họ.
              Đêm nay trời ở rất cao
              Sương thì đậm quá trăng sao lại nhòa
              Người ta... mặc kệ người ta
              Chỉ em rất thật đàn bà với anh!
              Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
              Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm.
                                                 (1992, Quang Huy)
        Một lần nữa Thị Nở rút ruột mà nói ra nỗi lòng của kẻ đang yêu và được yêu. Trời đất cũng ủng hộ cho cuộc “mây mưa” của họ đêm nay “trời ở rất cao” không có gì phải ngại. “Sương thì đậm” sáng ra sẽ tan thành nước giúp phần xóa dấu tích của họ. “Trăng sao lại nhòa” đâu thể nhìn thấy hai người. “Còn người ta…” ngay lúc đầu Thị đã không ngần ngại mà khẳng khái rằng “chấp chi miệng lưỡi lắm lời thị phi ”thì bây giờ Thị còn sợ gì đâu mà chẳng“ “…mặc kệ người ta”… Thị khẳng định chắc nịch: “Chỉ em rất thật đàn bà với anh”.
        Nhà Thơ Quang Huy đã để cho Nỗi Niềm Của Thị Nở kết ở nơi mà hai người gặp nhau, tìm đến nhau theo bản năng của con người. Nơi này cũng chính là xuất phát ra tình yêu của họ, chí ít cũng từ phía Thị Nở. Thị yêu, Thị “nao nao”, Thị thương Chí Phèo tới mức “Đứt ruột”. Và rồi đỉnh điểm của tình yêu chính là sự dâng hiến. Sau đêm nay…Thị đã không còn là con gái nữa, Thị đã trở thành “Đàn bà” người mà “rất thật với anh”. Dẫu Thị từ trong sâu thẳm vẫn nghĩ tới tiết hạnh của người con gái Á Đông đấy chứ! Vẫn biết đến “Tiết trinh đáng giá ngàn vàng” mà cả Thị và Người yêu Chí Phèo của Thị đều “nghèo rớt mồng tơi”. Nhưng có lẽ vì quá yêu nên lỡ trao rồi Thị chỉ còn biết thốt ra hai từ “thôi rồi”. Quả thật hai từ này nhà thơ Quang Huy dùng thật đáng giá, bởi có hai chữ “thôi rồi” bản chất của Thị Nở vẫn còn biết mình đã làm gì…? Và có lẽ cũng vì cái sự giật mình mà thốt ra hai chữ “thôi rồi” này, nên “Hồn em nhập bát cháo hành ngàn năm” hay chăng? Có lẽ thế bởi Chí Phèo ra đời cho tới nay hơn 70 năm, nhưng nói đến Thị Nở thì chưa ai phủ nhận tình cảm mà Thị trao cho Chí Phèo qua bát cháo hành giải cảm vào lúc gần sáng năm ấy! Và có lẽ nó sẽ còn được nhớ tới mãi mãi sau này.
        Hai chữ “thôi rồi” mà Thị Nở thốt ra ở đây, tôi thấy phảng phất câu thơ cũng chính là nỗi lòng của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du :
              “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
              Giật mình mình lại thương mình xót xa”
        Nếu không có cái “giật mình” này Thúy Kiều cũng chẳng khác gì các cô gái “lầu xanh” khác!
        Cám ơn nhà Thơ Quang Huy với bài thơ Nỗi Niềm Thị Nở đã cho tôi có dịp đồng hành với một góc nhìn rất nhân văn của tác giả về hai thân phận con người cùng khổ của xã hội thời phong kiến vào những thập niên đầu của Thế kỷ 20. Dẫu cho họ xấu tới mức nào, nghèo đói ra sao, họ đã phải làm những việc xấu xa “rạch mặt ăn vạ… cuộc đời đã xô đẩy họ đến chỗ cùng đường… Nhưng tình yêu, tình cảm của họ trao cho nhau đáng để ta phải suy ngẫm.
                                                                                                                                         Sài Gòn 19/3/2014 
                                                                                                                                            Huỳnh Xuân Sơn 

    (Nguồn VanDanViet.Net )



    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 14:58 09/08/2014
    Số lượt xem: 1226
    Số lượt thích: 1 người (Đỗ Thị Hoa)
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi