Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa

    Gốc > Cùng khám phá - tìm hiểu > Danh nhân đất Việt >

    Tô Hiến Thành – người tài đức vẹn toàn

    Truyền thuyết tại làng Hạ Mỗ (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Tây) kể rằng đời vua Lý Thần Tông, vùng Hạ Mỗ là một làng đông dân, chia ra nhiều xóm. Ở nơi đây có vợ chồng Phủ doãn Tràng An là Tô Trung – Nguyễn Thị Đoan đến sống ở xóm lẻ. Ông bà là người hiền lành, được bà con yêu mến, năm Nhâm Ngọ sinh được một bé trai đĩnh độ khác thường, đặt tên là Hiến Thành, hiệu là Phi Diên.

    Từ thuở nhỏ, Tô Hiến Thành được dạy dỗ, học văn học võ. Khi trưởng thành, ông là một chàng trai hội đủ tài thao lược, nức tiếng gần xa. Tài đức của ông được vua Lý Anh Tông nghe biết, mời vào cung.

    Cổng dẫn vào đền thờ Tô Hiến Thành (Thanh Hóa)

    Năm Mậu Ngọ 1138, nhân có khoa thi, ông xin ứng thi và đỗ cao, được nhà vua trọng dụng và giao cho những việc quan trọng:

    - Năm 1141, được cử lên châu Lạng dẹp loạn Thân Lợi.

    - Năm 1159 được cử về phía Đông dẹp quân Ngưu Thống, Ải Lao.

    - Năm 1160, ông được giao chấn chỉnh tổ chức quân đội.

    - Năm 1161, ông cùng tướng Đỗ An Di mang hai vạn quân tới tuần tiễu biên giới Tây Nam.

    - Năm 1167, ông đem quân đi đánh Chiêm Thành.

    Về văn học, từ năm 1156, ông đã tâu xin vua Lý lập đền thờ Khổng Tử ở phía nam Hoàng thành Thăng Long, đồng thời tâu xin bãi bỏ khoa thi Minh Kinh bác học, thay bằng khoa thi văn hóa để tìm người hiền tài.

    Do văn võ song toàn, nên ông sớm được phong thái phó. Khi vua Lý Anh Tông sắp mất đã giao thái tử Long Cán cho ông phù trợ, ông được phong là Nhập nội Kiểm hiệu Bình chương quân quốc trọng sự, tước Thái úy. Ông được quyền thay vua nhỏ tuổi nhiếp chính sự.

    Tháng 7 năm 1175, vua Lý Anh Tông mất. Vua có hai người con trai là Long Xưởng (đã lớn) và Long Cán (còn nhỏ tuổi). Trước đó một năm, con trưởng là Long Xưởng do ăn ở vô đạo nên đã bị truất ngôi thái tử. Con thứ Long Cán được vua cha cho thay giữ ngôi vị này. Mẹ của Long Xưởng là Chiêu Linh buộc phải vâng lệnh, nhưng trong lòng vẫn còn ấm ức. Đến khi Lý Anh Tông trở bệnh nguy kịch, bà lại tìm cách thuyết phục Anh Tông một lần nữa. Sự việc này đã có một cuộc đối đáp rất đáng ghi nhớ giữa vua Anh Tông, quan quyền nhiếp chính Tô Hiến Thành và bà Chiêu Linh.

    Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 4, tờ 16b) chép rằng:

    “Trước đó, khi vua ốm nặng, hoàng hậu Chiêu Linh lại xin lập Long Xưởng. Vua nói:

    - Làm con bất hiếu thì trị dân làm sao được?

    Nhà vua bèn để di chiếu cho Tô Hiến Thành giúp đỡ thái tử, công việc quốc gia đều phải theo phép cũ mà làm. Bấy giờ, thái hậu muốn làm chuyện phế lập nhưng lại sợ Tô Hiến Thành không nghe, bèn đem vàng bạc đút cho vợ của Tô Hiến Thành. Tô Hiến Thành biết được, nói rằng:

    - Ta là đại thần nhận mệnh của tiên tổ để lo giúp đỡ vua còn bé, nay lại ăn của đút mà làm chuyện phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới suối vàng.

    Thái hậu lại gọi Tô Hiến Thành đến dỗ dành trăm cách, nhưng Hiến Thành vẫn một mực nói rằng:

    - Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ đâu có chịu làm, huống chi lời của tiên đế còn ở bên tai, điện hạ lại không nghe việc của Y Doãn, Hoắc Quan hay sao? Thần không dám vâng lệnh”.

    Trong câu trả lời của mình, Tô Hiến Thành có nhắc đến hai nhân vật Trung Quốc là Y Doãn và Hoắc Quang để tự nhấn mạnh mình là bậc trung thần không thể bị mua chuộc.

    Khi Lý Cao Tông nối nghiệp vua cha, phong Tô Hiến Thành làm phụ chính Thái sư. Ông cố sức giữ cho nghiệp đế nhà Lý được vững, nhưng trời không chiều người, Lý Cao Tông non trẻ, ông già yếu lâm bệnh nặng.

    Những ngày Tô Hiến Thành ở trên giường bệnh, chỉ có quan tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ phục dịch. Quan gián nghị đại phu là Trần Trung Tá vì nhiều công việc bận, không có thời giờ rảnh rỗi tới thăm Tô Hiến Thành được. Khi bệnh tình đã thành nguy kịch, bà thái hậu (tức Đỗ thái hậu) tới thăm và hỏi ông:

    - Nếu có mệnh hệ nào thì ai thay thế ông được?

    Tô Hiến Thành trả lời:

    - Người mà bình nhật thần biết chỉ có Trần Trung Tá mà thôi.

    Thái hậu nói:

    - Tán Đường ngày ngày hầu hạ thuốc thang cho ông, sao ông không nói tới là làm sao? Còn Trần Trung Tá là kẻ luôn thờ ơ với ông, mà sao ông vẫn ưa chuộng vậy?

    Tô Hiến Thành đáp:

    - Thái hậu hỏi người thay thế thần để lo việc lớn của quốc gia, cho nên thần tiến cử Trần Trung Tá bởi xét trong triều chỉ có ông ấy làm nổi, còn nếu hỏi việc phục dịch cơm nước thuốc thang thì ngoài Võ Tán Đường chẳng còn ai hơn được.

    Thái hậu cả khen Tô Hiến Thành, thầm phục tấm lòng cương trực của ông, không vì chút vị tình mà quên việc nghĩa lớn.

    Tô Hiến Thành mất ngày 12 tháng 6 năm Kỷ Hợi 1179, triều vua Lý Cao Tông. Khi nghe tin ông mất, vua bãi chầu bảy ngày, ăn chay ba ngày để tang ông và tỏ rõ niềm kính trọng đặc biệt đối với ông.

    Công lao của Tô Hiến Thành không chỉ ở việc đánh dẹp phản giặc, đem lại bình yên cho đất nước, mà còn ở chỗ giỏi chính sự, trọng hiền tài. Sự cải cách về thi cử của ông đã tạo đà cho nhiều người lập thân, khi làm quan xử đúng tinh thần Nho giáo.

    San khi ông mất, nhiều nơi lập đền thờ ông. Điều đặc biệt là cả hai vợ chồng ông đều được nhân dân tôn thờ, bởi lẽ thành công của ông có sự đóng góp của bà lúc sinh thời.

    Vùng Lạc Thị (huyện Thanh Trì, Hà Nội) tương truyền là quê của bà Lã Thị, vợ Tô Hiến Thành. Ở đây có một ngôi đền lớn được nhân dân giữ gìn, tu sửa. Cả nước có 200 đình, đền thờ Tô Hiến Thành. Vùng đất huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), các làng Cổ Am đều có đền thờ. Ở làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Tây có ngôi đền Văn Hiến Đường thờ vị đại thần Tô Hiến Thành. Hàng năm, con cháu họ Tô và khách thập phương về Hạ Mỗ, nơi quê tổ dự lễ hội tưởng nhớ một danh thần lỗi lạc đời Lý – Tô Hiến Thành – mà đời sau sánh ông với Võ Hầu Gia Cát Lượng.

    *Nguồn: Tạp chí Quê hương


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 20:21 23/11/2012
    Số lượt xem: 683
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi