Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    2 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Ngân hàng đề thi Văn THCS > Đề thi HSG Văn 9 >

    TUYỂN TẬP ĐỀ ÔN HSG VĂN 9(THÁNG 2-2020)

    ĐỀ ÔN HSG VĂN 9 THÁNG 2/2020

     ĐỀ 1:

    Câu 1: ( 4 điểm)

    Phần I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

              Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu sau:

                                                          TỰ SỰ

     Dù đục, dù trong con sông vẫn chảy

    Dù cao, dù thấp cây lá vẫn xanh

    Dù người phàm tục hay kẻ tu hành

     Đều phải sống từ những điều rất nhỏ.

    Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

    Sao ta không tròn ngay tự trong tâm?

    Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm

    Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng

    Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

    Chắc gì ta đã nhận ra ta

    Ai trong đời cũng có thể tiến xa

    Nếu có khả năng tự mình đứng dậy.

    Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy

    Đâu chỉ dành cho một riêng ai.

                                                                       (Lưu Quang Vũ)

    Câu 1(0,5 điểm): Xác định  phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.

    Câu 2(1,0 điểm): Em hiểu thế nào về ý nghĩa 2 câu thơ sau:

                             "Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm

    Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng".

    Câu 3 (1 điểm)Theo em, vì sao tác giả nói rằng:

                            "Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

    Chắc gì ta đã nhận ra ta"

    Câu 4 (1,5 điểm): Thông điệp nào của văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?

    II. LÀM VĂN (16,0 điểm)

    Câu 1 (6,0 điểm):

               Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về 2 câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu:

    "Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

    Sao ta không tròn ngay tự trong tâm"

    Câu 2: ( 10 điểm)

     Nhận xét về văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, có ý kiến viết:

    “ Văn học của ta đã xây dựng và thể hiện sinh động hình ảnh của thế hệ trẻ

    “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” với ý thức ngày càng sâu sắc về trách nhiệm của thế hệ trước dân tộc và nhân dân, trước Tổ quốc và lịch sử.”

        Qua một số tác phẩm đã học, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

     Hướng dẫn chấm và biểu điểm

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    Đọc hiểu

     

    1

    Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: biểu cảm

    0,5

    2

    Ý nghĩa 2 câu thơ:

    "Đất ấp ôm cho muôn hạt nảy mầm

    Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng"

    - "Đất" - nguồn sống, nguồn dinh dưỡng cho hạt nảy mầm. Cũng như cuộc sống trong cõi đời này không dành riêng cho một ai mà cho tất cả chúng ta.

    -  Hạnh phúc ở quanh ta nhưng không tự nhiên đến. Nếu muốn có cuộc sống tốt đẹp, muốn có hạnh phúc, tự mỗi người phải có suy nghĩ và hành động tích cực.

    1,0

    3

    Tác giả cho rằng:

    "Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

    Chắc gì ta đã nhận ra ta"

    - Bởi vì: "Đường đời trơn láng" tức là cuộc sống quá bằng phẳng, yên ổn, không có trở ngại, khó khăn

    - Con người không được đặt vào hoàn cảnh có vấn đề, có thách thức thì không  đến được đích.

    - Con người có trải qua thử thách mới hiểu rõ chính mình và trưởng thành hơn.

    1,0

    4

    Học sinh có thể chọn một trong những thông điệp sau và trình bày suy nghĩ thấm thía của bản thân về thông điệp ấy:

    - Dù là ai, làm gì, có địa vị xã hội thế nào cũng phải sống từ những điều rất nhỏ; biết nâng niu, trân trọng những cái nhỏ bé trong cuộc sống.

    - Con người có trải qua thử thách mới hiểu rõ chính mình và trưởng thành hơn.

    1,5

    II

    Làm văn Nghị luận xã hội

     

     

     

     

    1

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về 2 câu thơ trong văn bản ở phần Đọc hiểu:

    "Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

    Sao ta không tròn ngay tự trong tâm"

    6 đ

     a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: giá trị của con người trong cuộc sống

    0,5

    c. Triển khai vấn  nghị luận: thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau:

     

     

    Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    1. Giải thích. 

    - Cuộc đời: là xã hội, là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, cuộc đời là cái khách quan là hệ quả do con người tạo ra

    -Tâm: là cái vô hình ẩn nấp trong con người, cái khẳng định giá trị con người, cái chủ quan do con người quyết định.

    - Cuộc đời méo mó: cuộc đời không bằng phẳng, chứa đựng nhiều điều không như con người mong muốn.\

    -Tròn tự trong tâm: cái nhìn, thái độ, suy nghĩ đúng đắn của con người cần tích cực, lạc quan trước cuộc đời cho dù hoàn cảnh như thế nào.

    => Cuộc đời thường hay méo, nên con người cần tròn ngay từ trong tâm, tránh chỉ chê bai, oán trách.

    2. Bàn luận:

    - Bản chất cuộc đời là không đơn giản, không bao giờ hoàn toàn là những điều tốt đẹp, thậm chí có vô vàn những điều “méo mó” (HS nêu dẫn chứng từ đời sống và lý giải để thấy được bản chất thật của cuộc đời) 

    -Thái độ “tròn tự trong tâm” là thái độ tích cực, chủ động trước hoàn cảnh. Đây là thái độ sống đúng, làm đúng, không gục ngã trước khó khăn, trước phi lý bất công. Thái độ “tròn tự trong tâm” sẽ giúp ích nhiều cho cá nhân và xã hội (HS nêu dẫn chứng từ đời sống và lý giải để thấy được khi thái độ, suy nghĩ con người tích cực thì đem lại những giá trị gì? )
    -Trong thực tế xã hội có những cá nhân có thái độ tiêu cực trước cuộc sống:

    - “Ta hay chê” Đây là thái độ cần phê phán (HS nêu dẫn chứng từ đời sống và lý giải )

    3. Bài học nhận thức và hành động

    - Con người hoàn toàn có thể thay đổi đời sống chỉ cần mỗi cá nhân chủ động, tích cực từ trong tâm.

    - Câu thơ như một lời nhắc nhở, nêu lên một phương châm sống cho mỗi người trước cuộc đời

     

     

     

    1,0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2,0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1,0

     

     

    d.  Chính tả, dùng từ, đặt câu: Không sai Chính tả, dùng từ, đặt câu (Hoặc có 1 vài lỗi nhỏ, không đáng kể)

    0,5

     

     

     e. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (thể hiện được dấu ấn cá nhân, quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc), thể hiện ý phản biện nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.Chính tả dùng từ, đặt câu

    0,5

    Câu 3: ( 10 điểm)

     1.Về kĩ năng:

    - Biết cách làm bài văn nghị luận văn học có bố cục rõ ràng, đúng thao tác nghị luận, diễn đạt sáng rõ, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.

    - Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trongkháng chiến chống Mĩ và phạm vi tư liệu

    Lưu ýVề phạm vi tư liệu sử dụng cho bài viết, ngoài hai văn bản đã học ở học kì I lớp 9 là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, giám khảo cần khuyến khích cho những thí sinh có thêm những dẫn chứng ở các tác phẩm khác ở HKII hoặc ngoài chương trình cùng đề tài.

    2. Về kiến thức

      Bài viết cần trình bày được những nội dung cơ bản sau:

     A- Mở bài

    -         Giới thiệu vấn đề nghị luận: Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam qua thực tế văn học chống Mĩ

    -         Trích ý kiến

    -         Khái quát vấn đề

    B- Thân bài

    1. Khái quát chung

    - Hoàn cảnh lịch sử: Hai mươi năm dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đó là cuộc chiến đấu đầy gian khổ, ác liệt và hi sinh.

    - Hình ảnh trung tâm của thời đại, niềm tự hào của dân tộc và cũng là hình ảnh trung tâm của văn học kháng chiến chống Mĩ đó là hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam- thế hệ đóng góp lớn công sức và xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và dựng xây đất nước:

                                        Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

                                       Mà lòng phơi phới dậy tương lai

    -         Bởi vậy văn học giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhiều tác phẩm thơ ca cũng như văn xuôi của các tác giả đã khắc họa sinh động hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ: Họ là những người lính lái xe Trường Sơn; những cô gái thanh niên xung phong trên chiến trường; những con người ngày đêm miệt mài lao động cống hiến cho đất nước...

    -         Họ đều là những thanh niên sống có lý tưởng cao đẹp, họ nguyện đem sức trẻ, tinh thần, trí tuệ…cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tuy nhiệm vụ khác nhau nhưng họ cùng chung mục đích, lý tưởng là bảo vệ và xây dựng đất nước nên ở họ đều tỏa sáng những phẩm chất cao đẹp tuyệt vời.

    2. Phân tích và chứng minh

    -         Luận điểm 1Đó là lớp thanh niên trẻ có lý tưởng cách mạng cao đẹp, có hoài bão ước mơ, sẵn sàng cống hiến sức trẻ cho đất nước

    -         Lý tưởng cao đẹp của những người lính lái xe Trường Sơn: Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    ( Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

    -         Nhân vật anh thanh niên dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng anh đã ý thức được một cách sâu sắc về trách nhiệm của mình (một công dân) đối với quê hương đất nước, mà cao hơn là lý tưởng sống, lý tưởng cách mạng

    “ Mình sinh ra là gì,mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” (Lặng lẽ Sa Pa)

    -         Luận điểm 2: Họ là những con người dũng cảm, gan dạ, đầy tinh thần trách nhiệm, coi thường hiểm nguy,vượt qua mọi gian khổ sẵn sàng hi sinh để hoàn thành nhiệm vụ

    -         Những người lính lái xe Trường Sơn với tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường vì sự nghiệp giải phóng đất nước đã giúp họ vượt qua sự nguy hiểm của bom đạn ( sự ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ), vượt qua sự khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ

    “ Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi…”

     

    “ Không có kính ừ thì có bụi….”

    “ Không có kính ừ thì ướt áo…”

    “ Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

    -         Anh thanh niên với lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm đã giúp anh vượt qua nỗi cô đơn, vượt qua mọi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ

    “ Cháu ở đây có nhiệm vụ đo nắng, đo mưa….xong việc trở vào là không thể nào ngủ lại được.”

    c. Luận điểm 3: Ở họ có tình đồng chí, đồng đội gắn bó thân thiết, sẵn sàng chia sẻ với nhau trong cuộc sống thiếu thốn, gian khổ và hiểm nguy.

    -         Những người lính lái xe Trường Sơn từ sự cùng chung nhiệm vụ, lý tưởng họ đã trở thành đồng đội của nhau, sẻ chia với nhau những gian khổ ở chiến trường, tình đồng đội đã tiếp thêm cho họ sức mạnh để vượt qua bom đạn hiểm nguy. Hơn thế họ còn coi nhau như anh em trong một gia đình

    -         (Dẫn chứng và phân tích)

    -         Anh thanh niên có thể vượt qua nỗi cô đơn, vượt qua mọi sự gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ là vì anh luôn suy nghĩ anh không cô đơn mà luôn có đồng đội tiếp sức cho anh: “ Huống chi công việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em đồng chí dưới kia”.Vì đồng đội mà anh luôn cố gắng trong công việc bởi anh luôn thấy những đóng góp của mình cho đất nước còn quá nhỏ bé so với họ (anh bạn trên đỉnh Phan-xi-păng,anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét, ông kĩ sư vườn rau Sa- Pa).

    d. Luận điểm 4: Giữa những khó khăn ác liệt của cuộc sống họ vẫn tràn đầy tinh thần lạc quan, sự trẻ trung, lãng mạn của tuổi trẻ.

    -         Sự trẻ trung, ngang tàng, sôi nổi đậm chất lính của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn giữa chiến trường ác liệt. Thái độ bất chấp những gian khổ hiểm nguy

                                 (Dẫn chứng và phân tích)

    -         Anh thanh niên, qua những lời anh tâm sự với ông họa sĩ và cô kĩ sưvề cuộc sống một mình của anh, về công việc của anh ta thấy được ý chí nghị lực phi thường ở anh“ …Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng…”. Không chỉ vậy, ngoài giờ làm việc còn trồng hoa, nuôi gà và đặc biệt là dành thời gian để đọc sách mở mang hiểu biết.

    3. Đánh giá

    -         Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ hiện lên chân thực, sinh động trên các trang văn của các tác giả đã có sức thuyết phục với người đọc.

    -         Hình ảnh ấy không chỉ cho thấy tài năng của các tác giả mà còn cho chúng ta thấy sự am hiểu, trải nghiệm cuộc sống trong những năm kháng chiến ác liệtcủa các nhà văn, nhà thơ.

    -         Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về lịch sử dân tộc, thêm tự hào và tiếp bước truyền thống các thế hệ cha anh.

    C- Kết bài

    -         Khẳng định lại vấn đề

    -         Suy nghĩ của bản thân và liên hệ…

     ĐỀ 2:

    I. Đọc – hiểu văn bản (4 điểm)

              Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

                       “Thời gian nhẹ bước mỏi mòn

                         Xin đừng bước lại để còn mẹ đây

                         Bao nhiêu gian khổ tháng ngày

                         Xin cho con lãnh, kẻo gầy mẹ thêm

                         Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền

                         Con xin sống đẹp như niềm mẹ mong

                         Tình mẹ hơn cả biển đông

                          Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà”

                                                                       (Tình mẹ -Tử Nhi)

    Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên

    Câu 2. Chỉ ra và phân tích các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ trên ?

    Câu 3. Cảm nhận của em về tình cảm của tác giả đối với mẹ trong đoạn thơ ?

    Câu 4. Từ câu thơ “ Con xin sống đẹp như niềm mẹ mong”, em có suy nghĩ gì về lẽ sống đẹp của bản thân ?

    II. Tập làm văn

    Câu 1:

    Từ đoạn thơ trên, viết một văn bản nghị luận khoảng 02 trang, bàn về  ý kiến sau: Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết (B. Babbles).

    Câu 2:

            Trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét, có một anh cán bộ khí tượng kiêm vật lý địa cầu sống một mình, bốn bề chỉ có cây cỏ mây mù lạnh lẽo và một số máy móc khoa học. Nhưng khi gặp ông họa sĩ già anh vẫn khẳng định: “Cháu sống thật hạnh phúc”.

                                                  ( Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long)

             Ngoài biển khơi xa, trong đêm tối, có những con người vẫn háo hức ra đi trong tiếng hát. Họ“ Ra đậu dặm xa dò bụng biển/ Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.

                                                  ( Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)

            Núi cao biển xa, chân trời góc bể nhưng những người lao động ấy vẫn nhiệt tình, âm thầm mang sức lao động của mình cống hiến cho Tổ quốc.

            Dựa vào hai tác phẩm trên, em hãy làm sáng tỏ vẻ đẹp của người lao động mới?

     Hướng dẫn chấm và biểu điểm

    Phần

    Câu

    Nội dung

    Điểm

    I

    Đọc hiểu

     

    1

    Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: biểu cảm

    0,5

    2

    - Các biện pháp tu từ: nhân hoá thời gian ( nhẹ, bước); phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ( thời gian nhẹ bước mỏi mòn); phép so sánh ( Tình mẹ hơn cả biển đông/ Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà); Điệp từ  (hơn cả, xin)

    - Phân tích tác dụng:

    + Phép nhân hoá kết hợp phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác diễn tả chân thực bước đi của thời gian cùng cảm giác thương yêu lẫn xót xa của con khi chứng kiến sự già nua, yếu gầy của mẹ trước bao thăng trầm, gian khổ nhọc nhằncùng năm tháng trôi qua.

    + Phép so sánh nhấn mạnh tình yêu và công ơn trời bể của mẹ đối với con  sánh ngang tầm vũ trụ.

    + Điệp từ:nhấn mạnh tình yêu, niềm kính trọng con dành cho mẹ

    ->  Qua các biện pháp tu từ trên, tác giả đã thể hiện sự thấu hiểu, kính trọng, biết ơn sâu nặng của mình đối với người mẹ kính yêu. Từ đó, nhà thơ muốn nhắn nhủ bạn đọc thông điệp về tình cảm, ý thức, trách nhiệm của bản thân đối với cha mẹ.

    0,5

    3

    - Trân trọng những lời tâm sự tha thiết của Tử Nhi đối với thời gian, cũng chính là đối với người mẹ kính yêu của mình – mong thờ gian đừng “bước lại” để mẹ mãi trẻ trung, khoẻ mạnh, sống mãi.

    - Xúc động trước niềm mong mỏi được hi sinh vì mẹ của nhà thơ “Bao nhiêu gian khổ tháng ngày/ Xin cho con lãnh, kẻo gầy mẹ thêm”. Tử Nhi thật vị tha khi sẵn sàng đón nhận gian khổ để mang lại bình yên cho mẹ.

    - Cảm phục trước lời tự hứa chân thành của nhân vật trữ tình đối với mẹ                    “Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền/ Con xin sống đẹp như niềm mẹ mong”.  Cụm từ “ sống đẹp” thể hiện quan niệm đúng đắn, phù hợp chuẩn mực đạo đức dân tộc, trọn vẹn chữ Hiếu của nhà thơ đối với mẹ.

    - Thấu hiểu tình mẹ qua cách so sánh độc đáo của nhà thơ về tình mẹ “ Tình mẹ hơn cả biển đông/  Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà” từ đó nghĩ suy về đạo làm con đối với cha mẹ.

    1,5

    4

    - Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước mơ của mình đưọc bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối sống có văn hóa, biết lịch sự; là một cuộc sống có tri thức, có tình người.

    - Sống đẹp" trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người khác, để bao dung, thứ tha ...

    - Sống đẹp là sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội…

    - Phê phán những con người sống tiêu cực: thờ ơ, vô cảm, ích kỉ, thụ động, lười nhác…

    - Cần phải nhận thức đúng và rèn luyện thường xuyên để có lẽ sống đẹp. Biết trau dổi kiến thức, sinh hoạt, vui chơi lành mạnh, tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người nghèo, các em bé mồ côi, các cụ già ốm đau, không nơi nương tựa, hiếu thuận với cha mẹ…..

    1,5

    II

    Làm văn Nghị luận xã hội

     

     

     

     

    1

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Từ đoạn thơ trên, viết một văn bản nghị luận khoảng 02 trang, bàn về  ý kiến sau: Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết (B. Babbles).

    6 đ

     a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sứ mạng của người mẹ

    0,5

    c. Triển khai vấn  nghị luận: thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau:

     

     

    Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

    1. Giải thích câu nói

    -“Sứ mệnh” : Vai trò lớn lao, cao cả của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái.

    -“Người mẹ”: Người sinh ra con cái , rộng hơn đó chính là mái ấm gia đình.

    -“ Chỗ dựa cho con cái”: nơi che chở , yêu thương , là nơi con cái có thể nương tựa.

    Ý nghĩa cả câu : Câu nói đã đưa ra quan điểm giáo dục của cha mẹ với con cai hết sức thuyêt phục :Vai trò của cha mẹ không chỉ nằm trong việc dạy dỗ con mà quan trọng hơn là làm sao để con cái biết sống chủ động , tích cực , không dựa dẫm…
    2. Bình luận 

    - Tại sao đó là quan điểm đúng đắn :  Cuộc sống không phải lúc nào cũng êm đềm như mặt biển mênh mông mà luôn chực chờ nhiều bão tố dữ dội. Vì vậy, chúng ta cần biết tìm cách để vượt qua, và sẽ càng ý nghĩa hơn nếu chinh phục thử thách bằng chính nghị lực bản thân. ( dẫn chứng) Nếu con người chưa từng được rèn luyện , không phải đối mặt với bất kì trong gai nào thì rất dễ gục ngã.

    - Việc hình thành lối sống chủ động, tích cực là cả quá trình dài và đòi hỏi nhiều thời gian. Cho nên, ngay từ lúc nhỏ, những đứa trẻ cần được giáo dục cách sống tự lập. ( dânc chứng).Dạy từ việc nhỏ nhất như chăm sóc bản thân đến việc học tập ,đến những vấn đề phức tạp hơn . theo thời gian con cái sẽ được tôi luyện , tích lũy kinh nghiệm, vững vàng hơn,trưởng thành hơn.
    . - Cha mẹ cần luôn ở bên cạnh con nhưng cũng cần tạo cho con những “khoảng lặng”Cần thiết cho đứa trẻ tự suy ngẫm  , tự quyết định việc mình đang làm.

    - Dạy con biết tự lập nhưng không có nghĩa là phó mặc con hoặc quá khắt khe, yêu cầu cao đối với con.

    - Phê phán.

    + Nhiều phụ huynh nuông chiều con quá mức khiến con cái mất đi ý thức tự lập.
    Hậu quả : trước khó khăn  của cuộc sống thường mất phương hướng, lúng túng , bi quan ,vô dụng , hành động nông nổi thiếu suy nghĩ.
    +  Hoặc phó mặc con cái một cách tự nhiên theo kiểu “trời sinh tính” , không quan tâm uốn nắn con cái.
    3. Bài học nhận thức, hành động.

    + Bản thân luôn phải cố gắng không dựa dẫm vào sự giúp sức của bất kỳ ai. Tình thương của cha mẹ là nguồn động viên chứ không phải là vỏ bọc để lẩn tránh mọi trở ngại trên đường.
    + Cần tạo được sự yên tâm của cha mẹ với mình, cần khẳng định được bản thân.

    - Ý kiến vừa là bài học cho nhiều bậc phụ huynh, vừa thể hiện cách sống đúng đắn nên được phát huy ở mọi lứa tuổi.

    - Hành động: các bậc cha mẹ cần có tình yêu, phương pháp dạy con đúng đắn, dạy con biết tự lập, tự bước đi trên chính đôi chan của mình từ những việc nhỏ nhất.

    - Bản thân mỗi người con cần biết trân trọng tình cảm cha mẹ, nỗ lực cố gắng vươn lên bằng chính khả năng, sức mạnh của mình để trở thành chỗ dựa vững chắc cho cha mẹ.

     

     

     

    0,5

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2,0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1,5

     

     

    d.  Chính tả, dùng từ, đặt câu: Không sai Chính tả, dùng từ, đặt câu (Hoặc có 1 vài lỗi nhỏ, không đáng kể)

    0,5

     

     

     e. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (thể hiện được dấu ấn cá nhân, quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc), thể hiện ý phản biện nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.Chính tả dùng từ, đặt câu

    0,5

    Câu 2: (10 điểm)

    * Yêu cầu về kĩ năng:

    -  Học sinh nhận thức đúng yêu cầu của đề về kiểu bài, nội dung, giới hạn.

    -  Biết cách làm bài nghị luận văn học: bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ; diễn đạt trong sáng, biểu cảm; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.

    * Yêu cầu về kiến thức:

        Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải bám sát yêu cầu của đề. Cần chỉ ra và làm sáng tỏ những nét đẹp nổi bật của con người lao động mới ( người lao động sau Cách mạng tháng Tám) được thể hiện qua hai tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá (Huy cận),  Lặng lẽSaPa (Nguyễn Thành Long). Cụ thể cần đảm bảo được các nội dung cơ bản sau:

    1. Mở bài: ( 1,0 điểm)

        Nêu đúng vấn đề và giới hạn - vẻ đẹp của người lao động mới trong hai tác phẩm: “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận và “Lặng lẽSaPa” của Nguyễn Thành Long.

    2. Thân bài: ( 8 điểm)

    * Bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác (0,5 điểm)

          Sau chiến thắng chống thực dân Pháp, miền Bắc nước ta bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng CNXH. Một không khí phấn khởi, hăng say lao động kiến thiết đất nước dấy lên khắp mọi nơi.

         “Đoàn thuyền đánh cá” - Huy Cận (1958), “Lặng lẽ SaPa” - Nguyễn Thành Long (1970) đều là kết quả của các chuyến đi thực tế….

    * Chứng minh các Luận điểm thông qua từng tác phẩm

    (….)

    3. Kết bài: (1,0 điểm)

     ĐỀ 3

    Phần I. Đọc – hiểu (4 điểm)

    Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu sau:

               Nói về tàu điện tại Nhật, mỗi khoang tàu đều được thiết kế rõ ràng, đều có một dãy ghế ưu tiên có màu khác biệt dành cho những người có sức khỏe yếu, hoặc tàn tật gọi là “yusenseki”. Người Nhật luôn được biết đến là dân tộc có ý thức rất cao, những người khỏe mạnh lành lặn dù trên tàu có đang chật cứng cũng không bao giờ ngồi vào dãy ghế ưu tiên. Bởi họ biết chỗ nào mình nên ngồi, và chỗ nào không, cộng thêm lòng tự trọng không cho phép họ thực hiện hành vi “sai trái” ấy. Vì vậy gần như trên tàu luôn có chỗ dành cho những người thực sự cần phải ngồi riêng, như người tàn tật, người già, phụ nữ mang thai.

            Thứ hai người Nhật không bao giờ muốn mình trở nên yếu đuối trước mặt người khác, nhất là người lạ. Tinh thần samurai được truyền từ đời này sang đời khác đã cho họ sự bất khuất, hiên ngang trong mọi tình huống. Bởi vậy, hành động bạn nhường ghế cho họ có thể sẽ gây tác dụng ngược so với ý định tốt đẹp ban đầu. Người được nhường ghế sẽ nghĩ rằng trong mắt bạn, họ là một kẻ yếu đuối cần được “ban phát lòng thương”.

            Thứ ba dân số Nhật đang được coi là “già” nhất thế giới, tuy nhiên người Nhật không bao giờ thừa nhận mình già. Nếu bạn đề nghị nhường ghế cho người lớn tuổi, việc này đồng nghĩa với việc bạn coi người đó là già, và đây chính là mũi dao nhọn “xiên” thẳng vào lòng tự ái vốn cao ngun ngút của người Nhật. Có thể bạn có ý tốt, nhưng người được nhường ghế sẽ cảm thấy bị xúc phạm. Bỏ đi nha.

           Cuối cùng xã hội Nhật Bản rất coi trọng sự  bình đẳng, muốn ai cũng được đối xử như nhau. Họ không thích sự ưu ái, nhường nhịn, bạn đến trước giành được chỗ, chỗ đó là của bạn, người đến sau sẽ phải đứng, đó là điều dĩ nhiên. Kể cả bạn có nhã ý lịch sự muốn nhường chỗ cho một thai phụ, họ cũng sẽ lịch sự từ chối mặc dù trong lòng rất mong muốn có được chỗ ngồi mà bạn đang sở hữu. Bạn đã phải bỏ ra rất nhiều công sức để chiếm được chỗ ngồi ấy và người Nhật không muốn nhận đồ miễn phí, những thứ họ không phải nỗ lực để đạt được.

         (Vì sao người Nhật không nhường ghế cho người già, phụ nữ, Theo Tri thức trẻ - 20/8/2015)

     Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

    Câu 2 (1,5 điểm). Những nguyên nhân nào khiến người Nhật không nhường ghế cho người già, phụ nữ?

    Câu 3 (1 điểm). Văn hóa nhường ghế của người Nhật có gì khác với văn hóa của ViệtNam? Suy ngẫm của emvề điều đó?

    Câu 4 (1,5 điểm).Theo em làm thế nào để chúng ta có thể nhường chỗ cho người khác một cách có văn hóa? (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)

    Phần II. Làm văn (16điểm)

    Câu 1 (6 điểm)

      Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về Văn hóa giao tiếp của người Việt Nam trong xã hội được gợi ra từ đoạn trích ở phần Đọc hiểu

    Hướng dẫn chấm và biểu điểm

    Phần/

    câu

    Nội dung

    Điểm

    Phần I

    Đọc-  hiểu

    4,0

    Câu 1

    - Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

    0,5

    Câu 2

     

    Nguyên nhân khiến người Nhật không nhường ghế cho người già, phụ nữ là:

    + Có dãy ghế ưu tiên có màu khác biệt dành cho người già

    + Không ai muốn là kẻ yếu đuối cần được ban phát lòng thương

    + Không ai muốn thừa nhận mình già – coi đó là xúc phạm

    + Coi trọng sự bình đẳng, muốn ai cũng được đối xử như nhau

    1,0

    Cẩu 3

     

    Truyền thống văn hóa của người ViệtNamlà tương thân tương ái, luôn động viên giúp đỡ lẫn nhau trong cụôc sống; luôn kính trọng, lễ phép với người cao tuổi. Tuy nhiên vẫn còn những hành vi xấu: đó là sự thờ ơ vô cảm, ích kỉ chỉ nghĩ đến bản thân mình; không tôn trọng người khác.

    1,0

    Câu 4

     

    Sự giúp đỡ người khác không nhất thiết phải phô trương; không tỏ ra thương hại tội nghiệp khi giúp đỡ; lặng lẽ có việc bỏ đi, nhường lại chỗ trống, nhường ghế với sự trân trọng, cảm thông và thấu hiểu.

    1,5

    Phần II.

    Làm văn Nghị luận xã hội

    6,0

     

     a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận: thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành.

    0,5

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Văn hóa giao tiếp của người ViệtNamtrong xã hội

    0,5

    c. Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ…

    4,0

    ????????????????????/

     

    d.  Chính tả, dùng từ, đặt câu: Không sai Chính tả, dùng từ, đặt câu (Hoặc có 1 vài lỗi nhỏ, không đáng kể)

     

    0,5

    e. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (thể hiện được dấu ấn cá nhân, quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc), thể hiện ý phản biện nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

    0,5

    ĐỀ 4

    Câu 2: (6 điểm)

    Trong câu chuyện "Lỗi lầm và sự biết ơn" (Ngữ văn 9 – Tập 1 – Trang 160) có câu:

    "Những điều viết lên cát sẽ mau chóng xóa nhòa theo thời gian, nhưng không ai thể xóa được những điều tốt đẹp đã được ghi tạc trên đá, trong lòng người"

    Trình bày suy nghĩ của em về câu nói trên ? (Viết thành văn bản khoảng một trang giấy thi).

    Câu 3: (10 điểm)

    Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, ngoài hình ảnh người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con người lao động mới.

    Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

    * Gợi ý:

    Câu 2: (6 điểm)

    * Yêu cầu về hình thức:

    - HS biết cách làm kiểu bài nghị luận bố cục chặt chẽ, sử dụng các thao tác giải thích – chứng minh- bình luận.

    * Yêu cầu về nội dung: Về cơ bản thể hiện được những ý sau:

    a. Giải thích ý nghĩa câu nói:

      Những điều viết lên cát nhanh chóng bị xóa nhòa: lỗi lầm.

      Những điều được ghi tạc trên đá, trong lòng người: sự biết ơn.

    b. Suy nghĩ:

      Mỗi chúng ta suy nghĩ và biết cách xóa đi những lỗi lầm mắc phải trong cuộc sống. Những lỗi lầm đó cần được mau chóng xóa nhòa theo thời gian, không còn chỗ đứng trong cuộc sống của mỗi con người để cuộc sống tươi đẹp hơn không có đau buồn, thù hận.

      Chúng ta cần học cách khắc ghi những ân nghĩa lên đá, trong lòng người. Đó là những điều tốt đẹp, chồi non của cuộc sống, mỗi con người từ đó đơm hoa kết trái làm đẹp cho đời cho cuộc sống chúng ta.

    c. Bài học rút ra được:

      Hãy bao dung độ lượng với tất cả mọi người.

      Lòng nhân ái là nét đẹp truyền thống của con người ViệtNam.

      Biết tha thứ và ghi nhớ ân nghĩa, ân tình: Đây là một trong những phẩm chất tốt đẹp nhất chỉ có ở con người, có nó cuộc sống đẹp hơn ý nghĩa hơn...

    Câu 3: (10 điểm)             I. Kỹ năng: ( 2 diểm)

    II. Kiến thức:

    Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những cảm nhận riêng, miễn là phù hợp yêu cầu của đề. Với đề bài này cần đảm bảo những ý sau:

    1. Giải thích nhận định: (2,0đ)

    Hiện thực của đất nước ta từ 1945 đến 1975 là hiện thực của những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng cuộc sống mới đi lên chủ nghĩa xã hội của. Hiện thực đó đã tạo nên cho dân tộc ViệtNammột vóc dáng nổi bật: vóc dáng người chiến sĩ luôn trong tư thế chủ động chiến đấu chống kẻ thù, vóc dáng của con người mới xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hình ảnh người chiến sĩ và người lao động mới hoà quyện tạo nên vẻ đẹp của con người dân tộc ViệtNam. Và điều này đã làm nên hơi thở, sức sống của văn học thời kì 1945 - 1975.

    2. Chứng minh. (4,0đ)

    a. Hình ảnh người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc: họ là những con người ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi và nổi bật với lòng yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, với tình đồng đội cao cả, sắt son, tinh thần lạc quan...

      Họ là những con người ở mọi tầng lớp, lứa tuổi như: người nông dân mặc áo lính (Đồng chí của Chính Hữu), những chàng trai trí thức vừa rời ghế nhà trường (Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật), những cô thanh niên xung phong (Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê), là em bé liên lạc (Lượm của Tố Hữu)...

      Họ là những người lính, người chiến sĩ có lòng yêu nước sâu sắc, có ý chí quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. (dẫn chứng)

      Hoàn cảnh sống chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ song họ luôn có tinh thần lạc quan và tình đồng chí, đồng đội cao đẹp... (dẫn chứng)

    b. Hình ảnh người lao động mới: họ xuất hiện với tư cách là những người làm chủ cuộc sống mới, họ lao động, cống hiến một cách hăng say, hào hứng, sẵn sàng hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình vì những lí tưởng cao cả và tương lai đất nước.

      Người lao động trong "Đoàn thuyền đánh cá" của Huy cận mang nhịp thở tươi vui, hăm hở, hoà mình cùng trời cao biển rộng: họ ra khơi với niềm hân hoan trong câu hát, với ước mơ trong công việc, với niềm vui thắng lợi trong lao động. Đó là những con người mang tầm vóc vũ trụ, hăm hở ra khơi bằng tất cả sức lực và trí tụê của mình.(Dẫn chứng).

      "Lặng lẽ SaPa" của Nguyễn Thành Long mang nhịp thở của người lao động mới với phong cách sống đẹp, suy nghĩ đẹp, sống có lí tưởng, say mê, miệt mài trong công việc, quên mình vì cuộc sống chung, vô tư thầm lặng cống hiến hết mình cho đất nước. Cuộc sống của họ âm thầm, bình dị mà cao đẹp (Dẫn chứng)

    3. Đánh giá, bình luận: (2,0đ)

    Văn học ViệtNamgiai đoạn 1945-1975 đã đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử và thời đại. Ở ngoài tiền tuyến khói lửa là hình ảnh của những người lính dũng cảm, kiên cường. Nơi hậu phương là những người lao động bình dị mang nhịp thở của thời đại mới. Hình ảnh người chiến sĩ và người lao động đã kết tinh thành sức mạnh của con người và dân tộc ViệtNamthế kỉ XX. Các tác giả văn học thời kì này họ đồng thời vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là người lính, người chiến sĩ, người lao động cầm bút để ngợi ca về con người dân tộc Việt với niềm say mê và tự hào. Họ đã làm nên vẻ đẹp và sức sống mới cho văn học ViệtNam.

    ĐỀ 5:

     Câu 2: (4 điểm)

    Suy nghĩ của em từ ý nghĩa câu chuyện sau:

    Diễn giả Le-o Bu-sca-gli-a lần nọ kể về một cuộc thi mà ông làm giám khảo. Mục đích của cuộc thi là tìm ra đứa trẻ biết quan tâm nhất. Người thắng cuộc là một em bé bốn tuổi.

    Người hàng xóm của em là một ông lão vừa mất vợ. Nhìn thấy ông khóc, cậu bé lại gần rồi leo lên ngồi vào lòng ông. Cậu ngồi rất lâu và chỉ ngồi như thế. Khi mẹ em bé hỏi em đã trò chuyện những gì với ông ấy, cậu bé trả lời: "Không có gì đâu ạ. Con chỉ để ông ấy khóc."

                                           (Theo "Phép màu nhiệm của đời" - NXB Trẻ, 2005)

     Câu 3 (10 điểm).

    Bàn về bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt có ý kiến cho rằng: "Bài thơ biểu hiện một triết thầm kín: những thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người, đều sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời".

    Bằng những hiểu biết của em về bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

     * Gợi ý:

    Câu 2: (4 điểm)

    I/ Về kĩ năng: HS trình bày dưới dạng bài văn nghị luận xã hội, có hệ thống luận điểm rõ ràng, chính xác, khoa học.

    Lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, văn viết có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

    II/ Về kiến thức:

    1. Giải thích được nội dung cơ bản của câu chuyện:

      Em bé đạt giải trong cuộc thi vì em là người biết quan tâm, chia sẻ nỗi đau với người khác.

      Người được chia sẻ không đòi hỏi gì, chỉ cần một chỗ dựa trong lúc đau đớn cũng là quá đủ.

      Cách em bé quan tâm đến người khác cũng rất "trẻ con": ngồi vào lòng người hàng xóm. Thế nhưng đó là cách chia sẻ hiệu quả nhất ngay trong tình huống ấy.

    2. Chứng minh, bình luận về nội dung câu chuyện:

      Trong cuộc sống, đôi khi con người gặp phải những mất mát, đau thương, cần có một mối đồng cảm từ những người xung quanh. (dẫn chứng)

      Biết quan tâm, sẻ chia với người khác là một hành động đẹp. Nhưng cách thể hiện sự quan tâm đó như thế nào còn tuỳ thuộc ở mỗi người. (dẫn chứng)

    3. Bài học cho bản thân.

      Trong cuộc sống, có những bài học vô cùng quý giá mà ta học được từ những điều hết sức bất ngờ. Những em bé đôi khi cũng có những việc làm mà mọi người phải suy ngẫm.

      Thấu hiểu và chia sẻ với nỗi đau của người khác là mình đã làm được một việc ý nghĩa.

      Sống đẹp sẽ nhận được cái đẹp từ cuộc sống.

     Câu 3 (10 điểm).

    * Về kĩ năng: học sinh biết bám sát văn bản ngôn từ, biết phát hiện và phân tích, chứng minh, cảm nhận và biết lập luận và trình bày thành một văn bản hoàn chỉnh.

    * Về nội dung kiến thức: Học sinh cần bám sát lời nhận định trên và văn bản để trình bày các ý sau:

      Giải thích lời nhận định:

    Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người: là những người thân trong gia đình, bạn bè, những kỷ niệm, một cây lược, một chiếc bút... gắn bó sâu sắc với ta. Đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời: trở thành điểm tựa, nguồn động lực, cho ta sức mạnh trong mỗi bước đường đời.

      Chứng minh nhận định:

    Trong bài thơ Bếp lửa, những gì thân thiết của tuổi thơ người cháu là bà, là bếp lửa, là những hình ảnh của quê hương... Những hình ảnh đó đã in đậm trong cháu từ thuở ấu thơ. (Dẫn chứng)

    Bà với tình yêu thương, đức hy sinh, niềm tin yêu cuộc sống; Bếp lửa với sự ấm nồng, thân thiết đã là chỗ dựa cho cháu, nhen lên trong cháu những tâm tình, những niềm tin, là nơi chắp cánh ước mơ cho cháu...(Dẫn chứng)

    Khi cháu lớn lên, học tập và công tác nơi xa, bà và bếp vẫn là điểm tựa, là nguồn động viên là nơi nâng đỡ...(Dẫn chứng)

    Suy rộng ra, điều tạo ra sức tỏa sáng, sự nâng đỡ người cháu trong bài thơ còn là quê hương, đất nước.

      Đánh giá khái quát:

    Bài thơ kết hợp trữ tình, tự sự, nhiều hình ảnh thơ đẹp...

    Những hình ảnh, kỉ niệm thân thiết nhất của tuổi thơ người cháu đã có sức tỏa sáng, nâng đỡ cháu, là chỗ dựa, là nguồn cổ vũ động viên cháu trên hành trình dài rộng của cuộc đời cháu.

    Bài thơ còn ngợi ca vẻ đẹp của người bà, người phụ nữ Việt Nam, gợi lòng biết ơn, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước.  


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 15:01 10/03/2020
    Số lượt xem: 2173
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi