Hồn Việt

THỜI GIAN LÀ VÀNG

Mời dùng Trà

Quà cô Bích Vân tặng

02i

VIOLET MỪNG XUÂN

Quà chị Tươi Nguyễn

Ôn thi Toán THPT



Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv Violet_giao_luuloan.swf Thien_nguyen_viole.swf Mungxuan.swf Happy_new_year.swf Down_on_the_farm__Bai_hat_thieu_nhi_tieng_Anh.swf Nguoi_Ve_Tham_Que__Beat_YeuCaHatcom.mp3 Videoplayback_.flv 31VVQ.flv Be_nhay_nhu_nguoi_lon.flv Newyear20151.swf Images_31.jpg Tim_em_loan.swf Nhmoi.swf NEU3.flv Neu_em_la.flv DC_loan_BCKT.swf Thammyhanquocjwgiamgiadacbietmung831.jpg CUUNON_CHUC_TET.swf

Tài nguyên dạy học

Lời hay ý đẹp

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Mrs. Hoa)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thời Tiết

    Thủ đô Hà Nội
    Hà Nội

    THÂN THƯƠNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    Đinh Tỵ thân yêu

    Một chút trong cuộc đời

    Con đường kỉ niệm

    TIỆN ÍCH ONLINE

    Kết nối yêu thương

    Đọc báo giúp bạn

    Thư giãn

    Đọc báo Online

    vui cùng ngoại hạng

    Vu lan nhớ MẸ

    Gốc > Văn - Thơ > Vườn Văn học > Dạy văn và Học văn >

    Về đâu ngành Sư phạm Ngữ văn

    Hiện nay, nền giáo dục của nước ta đang đứng trước những thách thức lớn. Một trong những thách thức được nhiều người nhận biết và được đề cập thường xuyên trên các diễn đàn là sự tụt hậu của nền giáo dục chúng ta so với khu vực và thế giới, do đó, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của đời sống hiện đại. Nhìn bao quát, có thể thấy, sự yếu kém trong nền giáo dục hiện nay biểu hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều bình diện. Có những vấn đề thuộc chiến lược giáo dục, có những vấn đề thuộc khâu tổ chức, điều hành, thực hiện. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên cũng rất đa dạng. Trong bức tranh tổng thể ấy, có thể thấy, ngành khoa học xã hội nhân văn đang là điểm xám xịt nhất, thậm chí, có người đã nói đến tình trạng 'báo động đỏ" trong lĩnh vực này. Đó hoàn toàn không phải là phóng đại, mà là một thực tế không thể lảng tránh. Trước thực trạng ấy, từ một góc nhìn cụ thể, chúng tôi xin đề cập đến những vướng mắc cần tháo gỡ ở ngành sư phạm Ngữ văn cũng như vấn đề dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Sở dĩ chúng tôi nêu đồng thời hai nội dung này bởi đó là những điều có quan hệ mật thiết với nhau. Đáng tiếc, lâu nay, người ta thường tách chúng ra thành hai mảng khá biệt lập, do đó, các giải pháp nêu lên chưa có tính đồng bộ và đưa lại kết quả rõ rệt.

     
    1. Thực trạng đào tạo trong ngành Ngữ văn nói chung, ngành Sư phạm Ngữ văn nói riêng
     
    1.1. Do sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội, những ngành như Y học, Dược học, Tài chính, Ngân hàng, Công nghệ...hiện đang có sức thu hút lớn nhất đối với học sinh PTTH. Đây là những ngành đang có nhu cầu về nhân lực rất lớn, kể cả lao động có trình độ cao và trình độ trung bình. Tốt nghiệp đại học ở một ngành kỹ thuật nào đó, chẳng hạn ngành Công nghệ thông tin, dù ở trình độ nào, sinh viên vẫn có thể tìm được việc làm, với mức lương thỏa thuận. Ở một số ngành, sinh viên có thể tìm việc ở các công ty nước ngoài, hưởng mức lương rất hấp dẫn. Đây là một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy ý thức học tập của học sinh. Cũng do vậy, đầu vào của các trường thuộc nhóm này khá cao, tác động tích cực rõ rệt đến chất lượng đào tạo và chuẩn đầu ra.
     
    Ngược lại, các ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có Ngữ văn đang lâm vào tình trạng ế ẩm. Sinh viên ra trường phần lớn không có việc làm hoặc không tìm được việc đúng ngành đào tạo. Sinh viên hệ Cử nhân khó tìm việc đã đành, ngay cả sinh viên hệ Sư phạm chính qui cũng rất ít cơ hội có việc. Qua tìm hiểu một số tỉnh Bắc miền trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình...), chúng tôi được biết, mỗi năm, Sở Nội vụ và Sở Giáo dục & Đào tạo các tỉnh ấy nhận được không dưới 200 hồ sơ xin việc ở mỗi môn, nhưng các môn như Văn, Sử chỉ tuyển dụng xấp xỉ vài chục trường hợp. Có những sinh viên nộp hồ sơ 4 đến 5 năm trời mà vẫn không được tuyển dụng.
     
    Những sinh viên may mắn có việc thì mức lương quá thấp, không đủ trang trải đời sống. Đây là điều đã được nói đến quá nhiều, nhưng hầu như chưa có phương án giải quyết. Vì thế, đòi hỏi người giáo viên phải tận tâm, say mê nghề nghiệp là những điều thiếu thực tế.
     
    Tình trạng trên tất yếu dẫn đến hệ quả: ngành Ngữ văn đã mất hết sức hấp dẫn đối với học sinh THPT khi các em lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Thật đáng buồn là ngay những trường ở thành phố, có bề dày truyền thống và có qui mô như trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) hằng năm đến mùa làm hồ sơ thi đại học, số học sinh đăng kí vào khối C chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính vì điều này, điểm chuẩn ngành Sư phạm ngày càng thấp. Với đầu vào như vậy, không thể nói đến chất lượng của những thế hệ thầy cô giáo tương lai. Không có thầy giỏi thì dĩ nhiên không thể có trò giỏi. Đây là một trong những khâu ách tắc lớn nhất của ngành Sư phạm nói chung, ngành Ngữ văn nói riêng. Nói đến tầm nhìn chiến lược giáo dục mà không tập trung tháo gỡ ách tắc này thì mọi chuyện cũng chỉ dừng lại ở lý thuyết.
     
    1.2. Chương trình đào tạo của ngành Sư phạm ở nước ta hiện nay  vẫn còn nhiều bất cập. Cơ cấu chương trình gồm các bộ phận: những môn chung (các môn khoa học Mác lênin, các môn chung khối ngành); những môn cơ sở ngành và chuyên ngành (Lý luận văn học, Văn học Việt Nam các thời kì, Văn học nước ngoài, Ngôn ngữ học và Việt ngữ học); nghiệp vụ sư phạm (Tâm lí học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn). Ngoài việc học lý thuyết, sinh viên còn phải đi thực tế (kiến tập và thực tập sư phạm). Cơ cấu chương trình chung là như vậy, nhưng xét tương quan, phải nói rằng, thời gian dành cho việc học nghề (cụ thể là nghề dạy học) của sinh viên là chưa thích đáng. Vì thế, trong việc đào tạo nghiệp vụ sư phạm, vẫn còn nặng về lý thuyết mà chưa coi trọng thực hành. Năm nào cũng có hiện tượng đến năm thứ tư, khi tiến hành tập giảng, giáo viên mới phát hiện ra có những sinh viên học ngành sư phạm nhưng không hề có khả năng nói, khả năng diễn đạt trôi chảy một vấn đề.
     
    Thử so sánh, cũng là đào tạo nghề, nhưng ở ngành Y, sự gắn kết giữa lý thuyết với thực hành được đặt ở mức độ cao hơn. Sau những giờ học lý thuyết trên lớp, sinh viên được thực tập ở các bệnh viện, với chuyên khoa mà mình theo học. Giảng viên của trường đại học có thể kiêm nhiệm chức danh một khoa ở bệnh viện. Giờ giao ban ở khoa, sinh viên phải tham dự để nghe các thầy cô - đồng thời là bác sĩ điều trị - hội chẩn, phân tích các trường hợp cụ thể, nêu các phương án điều trị. Dĩ nhiên, mỗi ngành có đặc thù riêng, đào tạo ngành Y có khác ngành Sư phạm, song điều chúng tôi muốn nói là, nếu sinh viên ngành Sư phạm được thâm nhập sâu hơn thực tế dạy học ở phổ thông, được tham dự nhiều hơn vào sinh hoạt chuyên môn của bậc học này, thì chắc chắn, trình độ nghiêp vụ của các em sẽ được nâng lên rõ rệt. Từng có những hình mẫu: trường THPT thực hành thuộc trường đại học, ví dụ, trường Nguyễn Tất Thành của Đại học Sư phạm Hà Nội. Có những trường như vậy, sinh viên sẽ được thực hành thường xuyên hơn, và giảng viên cũng có điều kiện hơn trong việc hướng dẫn sinh viên thực tập.
     
    1.3. Trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm hiện nay, chúng ta vẫn chưa cập nhật thông tin giáo dục học hiện đại cũng như thông tin về phương pháp dạy học của các nền giáo dục tiên tiến.
     
    Thế giới đã có những thay đổi cơ bản về triết lí giáo dục, chiến lược giáo dục... Chúng ta không thể quay lưng với những tư tưởng mới mẻ, tiến bộ, nhất là khi sự hội nhập về kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa, giáo dục là lẽ sống còn. Trong cuốn Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai, Edgar Morin - một trong những chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Văn hóa Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) - đã nêu những vấn đề rất bức thiết, hiện đại, không hề xa lạ với giáo dục của nước ta. Đó là Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng; Giảng dạy về hoàn cảnh con người; Giảng dạy căn cước địa cầu; Đương đầu với những bất xác định; Giảng dạy sự thông cảm; Đạo lí của nhân loại[1]. Những quan điểm có tính đột phá, phù hợp với mọi nền giáo dục trên thế giới trong thời đại toàn cầu hóa như vậy không thể thiếu trong hành trang của sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, nếu chúng ta không muốn một thế hệ giáo viên tụt hậu.
     
    Bên cạnh đó, sinh viên Sư phạm Ngữ văn cũng rất cần những thông tin về các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Sinh viên phải được tham khảo những bài giới thiệu về giáo dục Hàn Quốc, giáo dục Singapo, nhất là giáo dục Phần Lan trên mạng Internet để "nhìn người, biết ta". Không có lí do gì, những bộ phim, những bản nhạc, những ca khúc trong nền văn hóa đương đại phương tây thì được thế hệ trẻ tiếp nhận dễ dàng, trong khi chuyện dạy học ở nhà trường các nước phát triển, sinh viên sư phạm lại không hề biết đến.
     
    Cũng phải thấy thêm một thực tế, hiện nay, giáo trình phương pháp dạy học ngành Ngữ văn vừa chưa bắt kịp với yêu cầu đổi mới, vừa thiếu sự đồng bộ. Những giáo sư giàu kinh nghiệm nhất trong ngành phương pháp dạy học cũng phải thừa nhận điều này. Ở bậc THPT, sách giáo khoa Ngữ văn biên soạn theo tinh thần tích hợp đã áp dụng đại trà mấy năm nay, song giáo trình phương pháp dạy học môn Văn học,

    Tiếng Việt và Làm văn vẫn là giáo trình cũ, tương ứng với nội dung sách giáo khoa hợp nhất năm 2000. Vẫn biết, các giảng viên bộ môn này ở các trường đại học có bài giảng được biên soạn theo chương trình và sách giáo khoa mới, song những tài liệu ấy vẫn chưa được xuất bản như những giáo trình, do vậy, các giáo trình cũ vẫn là những tài liệu tham khảo chính. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận các phương pháp dạy học mới của sinh viên.
     
    2. Vấn đề dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
     
    2.1. Trước hết, phải thấy rằng, môn Ngữ văn (cũng như một số môn thuộc khoa học xã hội) đang chịu những áp lực bất lợi. Ở trên, chúng tôi đã đề cập một phần áp lực bất lợi đó (thực trạng hướng nghiệp của học sinh phổ thông). Ngoài ra, môn Ngữ văn còn chịu sự chi phối của tâm lí xã hội trong nền kinh tế thị trường - một áp lực không kém nặng nề.
     
    Nến kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự phát triển nhiều mặt của đất nước, trong đó, sự tăng triển kinh tế là chủ đạo. Đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, nhiều nhu cầu được đáp ứng. Song mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã lộ hiện, và ngày càng trở thành vấn đề nghiêm trọng. Biểu hiện của mặt trái này có thể khái quát ở mấy điểm: a) sự sùng bái vật chất, kĩ thuật; b) tâm lí hưởng thụ, bắt chước, học đòi; c) sự suy đồi đạo đức và sự xuống cấp của các giá trị văn hóa; d) sự lên ngôi của đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo các giá trị, e) xem nhẹ các yếu tố truyền thống... Trong bối cảnh ấy, những nội dung nhân văn thường được đề cập trong dạy học Ngữ văn có khi trở thành lạc điệu. Giờ đây khiến tâm hồn học sinh rung động qua những giờ dạy Văn là điều vô cùng khó khăn. Mấy năm trước, dư luận xôn xao về trường hợp một học sinh giỏi Văn tỏ ra hoàn toàn vô cảm trước bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiều. Chắc chắn, đó không phải là trường hợp cá biệt.
     
    2.2. Trình độ giáo viên chưa theo kịp những thay đổi của chương trình, sách giáo khoa và những biến động nhiều mặt của đời sống hiện đại.
    Khoảng vài chục năm trở lại đây, chương trình và sách giáo khoa bậc trung học phổ thông thường xuyên có sự thay đổi. Từng có sách giáo khoa phân ban và không phân ban; sách giáo khoa hai miền khác nhau rồi lại hợp nhất, sách giáo khoa riêng của từng phân môn rồi sách giáo khoa tích hợp ba trong một... Ở đây, chúng tôi xin không bàn về chất lượng cũng như sự cần thiết phải thay sách giáo khoa. Điều chúng tôi quan tâm là, trong các đợt thay sách như thế, nhìn chung, đội ngũ giáo viên luôn rơi vào tình trạng thụ động. Dù Bộ và các Sở có các chuyên đề bồi dưỡng thay sách ở những phạm vi và qui mô khác nhau, song, tư tưởng của các soạn giả vẫn không được truyền đạt và lĩnh hội chính xác. Xin nêu một ví dụ: sách Ngữ văn THPT hiện hành có hai yêu cầu hết sức cơ bản, gắn với hai khái niệm: tích hợp và tích cực. Nhưng thử hỏi, bao nhiêu phần trăm giáo viên Ngữ văn hiện nay hiểu được đầy đủ và vận dụng vào thực tế dạy học bằng những phương pháp mới, ưu việt hẳn so với những phương pháp trước? Đó là chưa nói, trong bộ sách Ngữ văn THPT hiện nay, có không ít kiến thức mới được cập nhật. Ví dụ, các bài Tiếng Việt sử dụng khá phổ biến tri thức dụng học. Với những giáo viên đã có khoảng hơn chục năm trong nghề, đó là những tri thức hết sức lạ lẫm. Thời sinh viên, họ chưa được biết đến những khái niệm thuộc lĩnh vực này.
     
    Cũng vậy, giáo viên Ngữ văn hiện nay nếu không có ý thức tự học và tự nghiên cứu, rất dễ lạc hậu với những vấn đề của cuộc sống hiện đại. Trong sách giáo khoa, những bài thuộc văn bản nhật dụng có đề cập đến một số vấn đề, chẳng hạn, Đến với hiện đại từ truyền thống (Trần Đình Hượu); Tư duy hệ thống, nguồn sức sống của đổi mới tư duy(Phan Đình Diệu); Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại (Nguyễn Khắc Viện)... Nói thẳng ra, đó là những bài rất khó, không chỉ với học sinh, mà cả với giáo viên.
     
    2.3. Cuối cùng, sự hạn chế trong gắn kết giữa trường phổ thông với giáo dục đại học cũng là một nguyên nhân dẫn tới chất lượng thấp của dạy học Ngữ văn.
     
    Nhu cầu gắn kết phải thể hiện từ hai phía. Đối với trường đại học, sự gần gũi, am hiểu hoạt động dạy học ở phổ thông là tiền đề để xây dựng chương trình và soạn thảo giáo trình phương pháp phù hợp. Thiếu điều kiện này, các giáo trình phương pháp sẽ nặng tính hàn lâm, nghiêng về lí thuyết mà thiếu cơ sở thực tiễn, do vậy hiệu quả đào tạo nghiệp vụ không cao. Trước đây, trưởng đoàn kiến tập hoặc thực tập sư phạm thường là giáo viên dạy phương pháp, và mỗi dịp dẫn sinh viên về công tác ở các trường như thế cũng là cơ hội để giảng viên thâm nhập thực tế phổ thông. Tiếc rằng, hiện nay, nhiều trường đại học đã thay đổi hình thức chỉ đạo thực tập, gửi thẳng sinh viên xuống các trường. Việc đi thực tế phổ thông hiện tại cũng không còn là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Điều này dẫn đến một bất cập: nhiều giáo viên đại học thiếu hẳn sự hiểu biết về thực tế giáo dục đang diễn ra ở bậc phổ thông.
    Các trường phổ thông hiện nay hình như cũng không có nhu cầu gắn kết với trường đại học. Những nhiệm vụ mà trường phải thực hiện thì các giáo viên đảm trách. Giáo viên lại tự thấy đủ trong khả năng của mình. Nếu gặp khó khăn về chuyên môn, trường đại học cũng không phải là nơi họ cần quan hệ để tháo gỡ. Thi thoảng, trường đại học tổ chức Hội thảo khoa học về dạy học bộ môn (chẳng hạn Hội thảo của khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh về chương trình và sách giáo khoa mới, tháng 4/2007), tuy có thu hút được lực lượng giáo viên phổ thông tham gia, nhưng những hoạt động như thế cũng chỉ mang tính thời điểm. Sự phối hợp giữa các trường phổ thông với đội ngũ giảng viên đại học - nhất là những người làm phương pháp - đã không được duy trì.
     
    Tạo ra sự cách bức giữa bậc phổ thông và đại học còn do chương trình giữa hai bậc học thiếu tính liên thông. Khi xây dựng chương trình dành cho sinh viên hệ sư phạm, dường như các trường đại học không quan tâm chuyện ở phổ thông người ta dạy cái gì, dạy như thế nào. Ngược lại, xây dựng chương trình môn Ngữ văn cho bậc THPT, tri thức của bậc THCS mới là điều đội ngũ biên soạn thấy cần tham khảo. Ở đây, nguyên tắc kế thừa được đặt cao hơn nguyên tắc phát triển. Quan điểm này không sai, nhưng nó càng góp phần đẩy xa khoảng cách chương trình của hai bậc học.
     
    Những điều chúng tôi nêu trên không hẳn là những phát hiện. Hễ gắn bó với ngành giáo dục, dù là dạy đại học hay phổ thông, là người quản lí hay trực tiếp đứng lớp, đều có thể nhận thấy thực trạng, ách tắc đó. Ở đây, "chẩn bệnh" không khó, cái khó là tìm ra các "phương thuốc" hữu hiệu. Trên các phương tiện truyền thông cũng như trên một số diễn đàn hiện nay, dường như người ta chỉ đề cập đến thực trạng nhiều hơn là đề ra các giải pháp.
     
    Cần thẳng thắn để nhận thấy rằng, trong những vấn nạn của ngành sư phạm Ngữ văn ở nước ta hiện nay, có những vấn đề thực sự quá tầm của ngành giáo dục. Quả thật, thay đổi tâm lí xã hội thể hiện trong việc chọn nghề, giải quyết tình trạng thất nghiệp của sinh viên ngành sư phạm, cân bằng thu nhập giữa nghề dạy học với những nghề nghiệp khác..., là những câu chuyện quá nan giải, quá lớn, đòi hỏi phải có một chiến lược lâu dài của nhà nước, của chính phủ chứ không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành. Chắc chắn các vị có trọng trách lớn nhất của Bộ ý thức rất rõ điều này, và tự thấy phạm vi trách nhiệm cũng như quyền hạn của ngành trong việc góp sức giải quyết những vấn đề hệ trọng mang tầm thời đại. Đây là công việc lâu dài và khó khăn.
     
    Bên cạnh đó, cũng có những vấn đề nằm trong tầm giải quyết của các trường đại học, các các quản lí giáo dục. Có điều, không thể giải quyết được vấn đề triệt để nếu chỉ dùng những biện pháp cục bộ, nhỏ lẻ, chắp vá. Chúng tôi nghĩ, các nhà quản lí của ngành hoàn toàn thấy được thực trạng như những gì chúng tôi đã nêu. Vấn đề là, trong phạm vi quyền hạn của mình, các vị có thể vận dụng đồng bộ các giải pháp như thế nào để tạo ra hiệu quả tích cực mà thôi.
     

     

    Đinh Trí Dũng - Đặng Lưu

     

     (Khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh) 


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Thị Hoa @ 20:20 14/08/2012
    Số lượt xem: 733
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    ĐINH XÁ quê tôi